Phần 2 - Đánh giá giữa học kì II: Tiết 6 - 7: Mùa mật mới trang 84 SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 2 Kết nối tri thức

Tổng quan nội dung

Lời Giải Chi Tiết: Phần 2 - Đánh giá giữa học kì II: Tiết 6 - 7: Mùa mật mới trang 84 SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 2 Kết nối tri thức

Bạn đang theo dõi bài viết hướng dẫn chi tiết Phần 2 - Đánh giá giữa học kì II: Tiết 6 - 7: Mùa mật mới trang 84 SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 2 Kết nối tri thức thuộc chương trình môn Ngữ văn Lớp 5 của bộ sách . Để hoàn thành tốt bài học này, học sinh cần nắm vững các lý thuyết trọng tâm đã được thầy cô giảng dạy trên lớp, từ đó vận dụng linh hoạt vào việc phân tích và giải quyết các câu hỏi, bài tập thực hành. Bài viết dưới đây được biên soạn bởi đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, trình bày tuần tự và rõ ràng lời giải cho từng mục trong SGK (bao gồm cả các câu hỏi thảo luận Khởi động/Khám phá lẫn bài tập tự luận cuối bài). Hãy đọc kỹ từng bước hướng dẫn (step-by-step) để hiểu rõ bản chất vấn đề thay vì chỉ sao chép kết quả cuối cùng nhé.

Để lấy mật, bà đã chuẩn bị những gì?

Câu 1

Trả lời câu hỏi 1 trang 84 SGK Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức

Mùa mật mới

Lk Ji - ọ.

. 6

222) - 4

Những đêm mùa mật, cuộc sống lặng yên quen thuộc ở làng Mật vụt đổi khác. Nhà nào cũng tấp nập, sáng sủa.

Bà lề mề bưng nồi, chõ, chiếc chậu sành và gùi lá mật đến bên bếp. Phựng và Nôốc Kham lấy mâm bột và bát vừng. Bà cháu ngồi xúm quanh gùi lá mật, lúi húi khều trứng ong và ong non rồi cùng nặn bánh. Khi đã hết ong non, bà bắc nồi cho lên bếp canh lá mật.

Trên miệng chõ, bà đặt cái chậu sành, bên trong góc chậu, bà gác những lá mật. Hơi nóng bốc nghi ngút, sáp bịt các lỗ mật chảy ra. Mật lẫn sáp rỏ đều đều xuống chậu.

Chậu mật trên bếp đầy dần. Mùi mật nóng hổi, thơm ngọt ngào bay ra ngoài. Bà bắc chậu xuống rồi đặt lên miệng chõ cái chậu khác. Khi mật nguội, bà gạt sáp và chắt mật vào vò. Bà nếm, loại mặt nào ngăm ngăm đắng là có nhiều nhuỵ xoan thì cắt riêng làm thuốc. Còn loại mật thường, vị ngọt đậm, bà giữ làm mật ăn hằng ngày và đem đi đổi hàng.

- Chưa năm nào được mùa mật như năm nay. – Bà sung sướng bảo. – Các

cháu muốn mua gì nào?

Phựng muốn mua cái dây lưng da, cây bút máy. Nôốc Kham muốn mua cái trâm cài tóc có bông hoa to kết bằng hạt cườm và một cái gương to.

- Thế bà định mua gì ạ?

- Bà mua bộ ấm tích, cái chảo và con dao to.

- Mua riêng cho bà cơ, những thứ bà nói là mua chung cho cả nhà mà.

- Bà chẳng cần gì. Bà đủ cả rồi.

- Bà hay kêu đau xương. Lần này cháu sẽ mua cao cho bà. – Phựng nói.

Bà cháu vui vẻ bàn chuyện bên chậu mật. Canh xong gùi lá mật, Phựng bưng những bình mật mới cất bớt vào buồng. Nôốc Kham bắc chảo mỡ lên bếp để rán bánh. Khi bánh đã vớt ra đầy mầm, bà ghé đầu ra cửa gọi gia đình bác thợ gỗ bên hàng xóm. Bà mời họ sang nếm mặt mới và ăn bánh, mừng mùa mặt.

(Theo Vũ Hùng)

Từ ngữ

- Lá mật: bánh sáp ong chứa mật.

- Canh lá mật: đun nhỏ lửa làm nóng lá mật (cách lấy mật ngày xưa, hiện ít được sử dụng; cách lấy mặt phổ biến hiện nay là vắt tay hoặc quay lá mật).

- Vò: hủ (bình) lớn.

Để lấy mật, bà đã chuẩn bị những gì?

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn văn thứ hai của bài đọc để tìm câu trả lời.

Lời giải chi tiết:

Để lấy mật, bà đã chuẩn bị: nồi, chõ, chiếc chậu sành và gùi lá mật, mâm bột, bát vừng.

Câu 2

Trả lời câu hỏi 2 trang 84 SGK Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức

Sắp xếp các hoạt động dưới đây theo trình tự của việc lấy mật.

a. Gác những lá mật trong góc chậu sành.

b. Đặt chậu sành lên miệng chõ.

c. Canh lá mật cho sáp bịt các lỗ mật chảy ra.

d. Bắc nồi chõ lên bếp.

e. Khều trứng ong và ong non ra khỏi lá mật.

g. Để mật nguội.

h. Gạt sáp ra và chắt mật vào vò.

Phương pháp giải:

Em dựa vào nội dung bài đọc để sắp xếp phù hợp.

Lời giải chi tiết:

Em sắp xếp các hoạt động dưới đây theo trình tự của việc lấy mật là:

e. Khều trứng ong và ong non ra khỏi lá mật.

d. Bắc nồi chõ lên bếp.

b. Đặt chậu sành lên miệng chõ.

a. Gác những lá mật trong góc chậu sành.

c. Canh lá mật cho sáp bịt các lỗ mật chảy ra.

g. Để mật nguội.

h. Gạt sáp ra và chắt mật vào vò.

Câu 3

Trả lời câu hỏi 3 trang 84 SGK Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức

Mật sau khi thu được có hương vị ra sao?

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn văn thứ 4 của bài đọc để tìm câu trả lời.

Lời giải chi tiết:

Mật sau khi thu được có hai hương vị: một loại mật vị ngăm ngăm đắng là do có nhiều nhuỵ xoan, có thể làm thuốc; loại mật khác có vị ngọt đậm, là mật thường dùng để ăn và đổi hàng.

Câu 4

Trả lời câu hỏi 4 trang 84 SGK Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức

Niềm vui “được mùa mật" của các nhân vật trong câu chuyện được thể hiện như thế nào?

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn đối thoại của các nhân vật trong bài đọc để tìm câu trả lời.

Lời giải chi tiết:

Niềm vui “được mùa mật” của các nhân vật trong câu chuyện được thể hiện qua những câu trò chuyện sôi nổi sẽ định mua đồ vật gì của Phựng, Nôốc Kham và bà.

Câu 5

Trả lời câu hỏi 5 trang 84 SGK Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức

Theo em, những tình cảm nào được thể hiện trong câu chuyện? Những chi tiết nào cho em biết điều đó?

Phương pháp giải:

Em đọc kĩ bài đọc để trả lời câu hỏi.

Lời giải chi tiết:

Theo em, những tình cảm được thể hiện trong câu chuyện và chi tiết cho em biết điều đó là:

+ Tình cảm lo toan, biết dành dụm của bà (loại mật nào ngăm ngăm đắng là có nhiều nhuỵ xoan thì cất riêng làm thuốc).

+ Tình cảm của bà dành cho các cháu, muốn các cháu vui (bà hỏi các cháu muốn mua gì nào?)

+ Tình hiếu thảo của các cháu cho bà (những thứ bà muốn mua là mua chung cho cả nhà mà; cháu sẽ mua cao cho bà vì bà hay kêu đau xương).

+ Tình làng nghĩa xóm biết chia sẻ (mời gia đình bác thợ gỗ bên hàng xóm sang nếm mật mới và ăn bánh, mừng mùa mật).

Câu 6

Trả lời câu hỏi 6 trang 84 SGK Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức

Viết 2 – 3 câu nêu cảm nghĩ của em về người bà trong câu chuyện trên.

Phương pháp giải:

Em dựa vào nội dung câu chuyện để viết câu phù hợp.

Lời giải chi tiết:

Trong câu chuyện, người bà hết mực lo toan và yêu thương các cháu. Bà biết rõ ràng từng công đoạn và vật dụng cần phải có để lấy mật, cách phân loại mật thu được. Không chỉ vậy, bà còn có một tình yêu bao la dành cho các cháu, và tình cảm hàng xóm láng giềng.

Câu 7

Trả lời câu hỏi 7 trang 85 SGK Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức

Tìm câu đơn và câu ghép trong những câu dưới đây:

a. Trên miệng chõ, bà đặt cái chậu sành, bên trong góc chậu, bà gác những lá mật.

b. Mật lẫn sáp rỏ đều đều xuống chậu.

c. Hơi nóng bốc nghi ngút, sáp bịt các lỗ mật chảy ra.

d. Chậu mật trên bếp đầy dần.

e. Mùi mật nóng hổi, thơm ngọt ngào bay ra ngoài.

Phương pháp giải:

Em đọc kĩ các câu để trả lời câu hỏi.

Lời giải chi tiết:

Câu đơn:

b. Mật lẫn sáp rỏ đều đều xuống chậu.

d. Chậu mật trên bếp đầy dần.

e. Mùi mật nóng hổi, thơm ngọt ngào bay ra ngoài.

Câu ghép:

a. Trên miệng chõ, bà đặt cái chậu sành, bên trong góc chậu, bà gác những lá mật.

c. Hơi nóng bốc nghi ngút, sáp bịt các lỗ mật chảy ra.

Câu 8

Trả lời câu hỏi 8 trang 85 SGK Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức

Dùng kết từ (hoặc cặp kết từ) để nối các câu đơn dưới đây thành câu ghép.

Cách lấy mật ong truyền thống là vắt tay hoặc quay lá mật.

Mật ong có thể được đổi lấy các vật dụng cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày.

Người dân rất vui khi đến mùa mật.

Phương pháp giải:

Em suy nghĩ và dùng kết từ để nối câu phù hợp.

Lời giải chi tiết:

- Canh lá mật là cách lấy mật ngày xưa còn cách lấy mặt phổ biến hiện nay là vắt tay hoặc quay lá mật.

- mật có thể đổi lấy đồ dùng cần thiết cho sinh hoạt hằng ngày nên ba bà cháu rất vui khi được mùa mật.

Câu 9

Trả lời câu hỏi 9 trang 85 SGK Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức

Trong đoạn dưới đây, từ ngữ thay thế nào có tác dụng liên kết câu?

Khi bánh đã vớt ra đầy mâm, bà ghé đầu ra cửa gọi gia đình bác thợ gỗ bên hàng xóm. Bà mời họ sang nếm mặt mới và ăn bánh, mừng mùa mặt.

Phương pháp giải:

Em đọc kĩ đoạn văn để trả lời câu hỏi.

Lời giải chi tiết:

Từ ngữ thay thế có tác dụng liên kết câu: họ

Câu 10

Trả lời câu hỏi 10 trang 85 SGK Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức

Viết một đoạn văn dựa vào các ý dưới đây, trong đó có sử dụng các từ ngữ: đầu tiên, tiếp theo, sau đó, cuối cùng.

Chuẩn bị nồi, chõ.

Dùng canh lá mật chậu sành.

Gùi lá khều trứng ong i mm và ong non.

Gạt sáp, chắt mật vào vò.

Phương pháp giải:

Em suy nghĩ và viết đoạn văn theo yêu cầu.

Lời giải chi tiết:

Để lấy được mật theo cách làm ngày xưa, ta cần những thao tác rất cầu kì và công phu. Đầu tiên phải chuẩn bị đầy đủ các vật dụng: nồi, chõ, chậu sành, gùi lá. Tiếp theo, mật cần phải được khều hết trứng ong và ong non. Sau đó đun lá mật, canh cho lá mật rỏ đều mật lẫn sáp. Cuối cùng ta gạt sáp, chắt mật thu được vào vò để cất trữ.

Gợi Ý Phương Pháp Tiếp Cận Cho Bài Học Phần 2 - Đánh giá giữa học kì II: Tiết 6 - 7: Mùa mật mới trang 84 SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 2 Kết nối tri thức

Với định hướng phát triển năng lực của bộ sách , các bài tập trong phần Phần 2 - Đánh giá giữa học kì II: Tiết 6 - 7: Mùa mật mới trang 84 SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 2 Kết nối tri thức thường không đơn thuần chỉ là việc áp dụng một công thức cứng nhắc. Môn Ngữ văn Lớp 5 yêu cầu sự tư duy liên kết rất cao. Đối với các câu hỏi lý thuyết, học sinh cần rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản, trích xuất từ khóa (keyword) quan trọng để trả lời đúng trọng tâm, tránh lan man. Đối với dạng bài tập tính toán hay suy luận logic, điều quan trọng nhất là phải tóm tắt được đề bài (đề bài cho dữ kiện gì, yêu cầu tìm đại lượng nào), sau đó phác thảo sơ đồ tư duy giải quyết vấn đề trước khi bắt tay vào giải chi tiết. Lời giải được cung cấp trong bài viết này đã tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc đó: luôn giải thích lý do tại sao lại sử dụng công thức/phương pháp này để các bạn dễ dàng theo kịp mạch tư duy.

Lưu Ý Quan Trọng Về Cách Trình Bày Bài Tập Môn Ngữ văn

Một bài giải hoàn hảo không chỉ cần đáp số chính xác mà còn phụ thuộc rất lớn vào cách trình bày. Đối với học sinh Lớp 5, việc rèn luyện kỹ năng trình bày khoa học, sạch đẹp là vô cùng cần thiết để ghi trọn vẹn điểm số trong các kỳ thi tự luận. Khi tham khảo lời giải Phần 2 - Đánh giá giữa học kì II: Tiết 6 - 7: Mùa mật mới trang 84 SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 2 Kết nối tri thức trên website, các bạn hãy chú ý đến cấu trúc của một bài làm chuẩn mực. Nếu là một bài Toán/Lý/Hóa, hãy luôn nhớ ghi công thức tổng quát trước khi thay số, nhớ ghi đơn vị ở đáp số cuối cùng và có câu kết luận (Vậy...). Nếu là bài Văn/Sử/Địa, hãy trình bày thành các đoạn văn rõ ràng, có luận điểm, luận cứ rành mạch. Đừng bao giờ viết tắt những thuật ngữ chuyên ngành không được phép. Việc tuân thủ sự chỉn chu ngay từ khi làm bài tập về nhà sẽ giúp bạn tạo được thiện cảm rất lớn đối với giáo viên chấm bài.

Lời Khuyên Về Khả Năng Tự Nghiên Cứu Và Tham Khảo Khách Quan

Chúng tôi tạo ra chuyên trang lời giải sách môn Ngữ văn với mong muốn mang đến một "gia sư ảo" (virtual tutor) miễn phí, giúp các bạn học sinh tháo gỡ những khúc mắc ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kiến thức luôn mang tính đa chiều, đặc biệt đối với các câu hỏi mở, câu hỏi vận dụng sáng tạo (VDC) trong SGK. Đáp án mà chúng tôi đưa ra trong bài Phần 2 - Đánh giá giữa học kì II: Tiết 6 - 7: Mùa mật mới trang 84 SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 2 Kết nối tri thức được xem là phương án tham khảo chuẩn mực và logic nhất, nhưng không phải là duy nhất. Chúng tôi luôn khuyến khích các bạn phát huy tư duy phản biện (Critical Thinking). Nếu bạn tìm ra một cách giải khác ngắn gọn hơn, thông minh hơn, hoặc có một góc nhìn lập luận sắc bén hơn so với bài giải mẫu, hãy mạnh dạn chia sẻ nó trong phần Bình luận (Comment) ở phía dưới trang. Điều đó chứng tỏ bạn đã thực sự thấu hiểu và làm chủ được môn học này.

Góc Thảo Luận Và Hỗ Trợ Chuyên Môn Trực Tuyến

Quá trình tự học môn Ngữ văn lớp 5 đôi khi sẽ khiến bạn cảm thấy đơn độc và bế tắc khi đối mặt với một vấn đề quá hóc búa. Đừng lo lắng! Chuyên mục hướng dẫn giải bài Phần 2 - Đánh giá giữa học kì II: Tiết 6 - 7: Mùa mật mới trang 84 SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 2 Kết nối tri thức của chúng tôi được thiết kế đi kèm với hệ thống hỏi đáp tương tác trực tiếp. Nếu trong quá trình đối chiếu bài giải mà bạn phát hiện ra một dấu phép tính bị sai sót do lỗi đánh máy, hoặc có một bước biến đổi công thức nào đó quá tắt khiến bạn không hiểu được, xin vui lòng để lại ý kiến ngay lập tức. Đội ngũ giáo viên và các kiểm duyệt viên học thuật của website sẽ thường xuyên theo dõi các câu hỏi của học sinh để giải đáp, giải thích lại cặn kẽ (reply) trong thời gian sớm nhất, đảm bảo luồng kiến thức bạn tiếp nhận luôn được thông suốt và chính xác tuyệt đối.