Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Văn 11)
Tổng quan nội dung
Lời Giải Chi Tiết: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Văn 11)
Bạn đang theo dõi bài viết hướng dẫn chi tiết Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Văn 11) thuộc chương trình môn Ngữ văn Lớp 11 của bộ sách . Để hoàn thành tốt bài học này, học sinh cần nắm vững các lý thuyết trọng tâm đã được thầy cô giảng dạy trên lớp, từ đó vận dụng linh hoạt vào việc phân tích và giải quyết các câu hỏi, bài tập thực hành. Bài viết dưới đây được biên soạn bởi đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, trình bày tuần tự và rõ ràng lời giải cho từng mục trong SGK (bao gồm cả các câu hỏi thảo luận Khởi động/Khám phá lẫn bài tập tự luận cuối bài). Hãy đọc kỹ từng bước hướng dẫn (step-by-step) để hiểu rõ bản chất vấn đề thay vì chỉ sao chép kết quả cuối cùng nhé.
Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài bao gồm tóm tắt nội dung chính, lập dàn ý phân tích, bố cục, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cùng hoàn cảnh sáng tác, ra đời của tác phẩm và tiểu sử, quan điểm cùng sự nghiệp sáng tác phong cách nghệ thuật giúp các em học tốt môn văn 10
Tác giả
Tác giả Nguyễn Huy Tưởng
1. Tiểu sử
- Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960), ông sinh ra trong một gia đình nhà nho có tinh thần yêu nước ở làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Dục Tú, huyện đông Anh, Hà Nội).
- Năm 1930, ông tham gia các hoạt động yêu nước của thanh niên học sinh ở Hải Phòng.
- Năm 1935 ông làm thư ký nhà Đoan (Thuế quan) ở Hải Phòng, sau đó quay về Hà Nội.
- Năm 1938 ông tham gia Hội Truyền bá Quốc ngữ và phong trào hướng đạo sinh ở Hải Phòng.
- Năm 1943 ông gia nhập nhóm Văn hóa cứu quốc bí mật và được bầu làm Tổng thư ký Hội Truyền bá Quốc ngữ Hải Phòng.
- Sau đó ông tiếp tục hoạt động ở Hà Nội, Nam Định và Phúc Yên.
- Tháng 6 - 1945, Nguyễn Huy Tưởng tham gia ban biên tập tạp chí Tiên Phong của Văn hóa cứu quốc.
- Tháng 8 - 1945, Nguyễn Huy Tưởng đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào. Ông còn là đại biểu văn hóa cứu quốc, giúp biên tập các tờ báo Cờ giải phóng, Tiên Phong.
- Tiếp đó ông giữ chức vụ Tổng thư ký Ban Trung ương Vận động đời sống mới.
- Cách mạng Tháng Tám thành công, Nguyễn Huy Tưởng trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Hội văn hóa cứu quốc.
- Năm 1951, ông tham gia chiến dịch biên giới.
- Hòa bình 1954, ông làm Uỷ viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam
2. Sư nghiệp văn học
a. Quan niệm sáng tác
Bao trùm lên sáng tác của nhà văn là nguồn cảm hứng lớn về lịch sử. Viết văn để tỏ lòng yêu nước, đó là triết lí sống và là quan điểm sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng: “Phận sự một người tầm thường như tôi muốn tỏ lòng yêu nước thì chỉ có việc viết văn quốc ngữ thôi.”
b. Tác phẩm chính
Tác phẩm chính: Vũ Như Tô (kịch, 1941), Bắc Sơn (kịch, 1946), Những người ở lại (kịch, 1948), Đêm hội Long Trì (tiểu thuyết, 1942), An Tư (tiểu thuyết, 1945), Sống mãi với thủ đô (tiểu thuyết, 1961), Kí sự Cao Lạng (kí, 1951)...
c. Phong cách nghệ thuật
- Trong văn của ông luôn đầy chất thơ của cuộc sống và chất chứa những bài ca hy vọng, những bài học về tình thương yêu những người thân, xóm giềng, cộng đồng và đồng loại.
- Có thiên hướng khai hác các đề tài lịch sử
- Đóng góp lớn nhất ở hai thể loại: tiểu thuyết, kịch
- Văn phong giản dị, trong sáng, đôn hậu, thâm trầm, sâu sắc.
Tác giả Phạm Tiến Duật
- I. Tiểu sử
- Sinh năm 1941, tại Hà Nội
- Quê: Vĩnh Phúc
- Xuất thân: Gia đình công chức
- Học tập: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Tham gia kháng chiến chống Mỹ (1965-1973)
- Từ trần: 2007
- II. Sự nghiệp văn học
- Phong cách thơ
- Thơ chiến tranh: Hiện thực, táo bạo, giàu tính chiến đấu
- Thơ tình: Lãng mạn, chân thành, đậm chất suy tư
- Thơ đời thường: Gần gũi, giản dị, thể hiện tình yêu cuộc sống
- Các tác phẩm tiêu biểu
- "Đất nước đứng lên"
- "Ngọn lửa tình yêu"
- "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài"
- "Tổ quốc ơi, tôi đến rồi"
- Giải thưởng
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam
- Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật
- III. "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài"
- Hoàn cảnh sáng tác
- Thời kỳ chiến tranh Việt Nam (1969)
- Khi tác giả trực tiếp tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị
- Nội dung chính
- Thể hiện tình cảm sâu sắc, lòng kính trọng đối với những người lính đã hy sinh vì Tổ quốc.
- Khẳng định ý chí bất khuất, tinh thần chiến đấu của quân và dân ta.
- Cảm xúc tiếc thương, trân trọng vẻ đẹp của cuộc sống và con người trong chiến tranh.
- Giá trị nghệ thuật
- Sử dụng ngôn ngữ thơ độc đáo, giàu hình ảnh và biểu tượng.
- Kết hợp hài hòa giữa chất lãng mạn và hiện thực.
- Thể hiện sự sáng tạo trong cách xây dựng hình tượng và biểu tượng.
Đặc điểm nổi bật: Một nhà thơ chiến tranh tiêu biểu, luôn gắn bó với cuộc sống và con người Việt Nam.
Quảng cáo
Tác giả Phạm Tiến Duật
- I. Tiểu sử
- Sinh năm 1941, tại Hà Nội
- Quê: Vĩnh Phúc
- Xuất thân: Gia đình công chức
- Học tập: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Tham gia kháng chiến chống Mỹ (1965-1973)
- Từ trần: 2007
- II. Sự nghiệp văn học
- Phong cách thơ
- Thơ chiến tranh: Hiện thực, táo bạo, giàu tính chiến đấu
- Thơ tình: Lãng mạn, chân thành, đậm chất suy tư
- Thơ đời thường: Gần gũi, giản dị, thể hiện tình yêu cuộc sống
- Các tác phẩm tiêu biểu
- "Đất nước đứng lên"
- "Ngọn lửa tình yêu"
- "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài"
- "Tổ quốc ơi, tôi đến rồi"
- Giải thưởng
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam
- Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật
- III. "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài"
- Hoàn cảnh sáng tác
- Thời kỳ chiến tranh Việt Nam (1969)
- Khi tác giả trực tiếp tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị
- Nội dung chính
- Thể hiện tình cảm sâu sắc, lòng kính trọng đối với những người lính đã hy sinh vì Tổ quốc.
- Khẳng định ý chí bất khuất, tinh thần chiến đấu của quân và dân ta.
- Cảm xúc tiếc thương, trân trọng vẻ đẹp của cuộc sống và con người trong chiến tranh.
- Giá trị nghệ thuật
- Sử dụng ngôn ngữ thơ độc đáo, giàu hình ảnh và biểu tượng.
- Kết hợp hài hòa giữa chất lãng mạn và hiện thực.
- Thể hiện sự sáng tạo trong cách xây dựng hình tượng và biểu tượng.
Đặc điểm nổi bật: Một nhà thơ chiến tranh tiêu biểu, luôn gắn bó với cuộc sống và con người Việt Nam.
Tác phẩm
Tác phẩm Vĩnh biệt cửu trùng đài
1. Tóm tắt:
Nhân vật chính của vở kịch là Vũ Như Tô, là một nhà kiến trúc tài giỏi, một nghệ sĩ có chí lớn, tính tình cương trực, trọng nghĩa khinh tài. Lê Tương Dực, một hôn quân bạo chúa, sai Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi ăn chơi với đám cung nữ. Vũ đã từ chối dù bị đe dọa kết tội tử hình. Song Đan Thiềm, một cung nữ tài sắc nhưng đã bị ruồng bỏ, đã khuyên Vũ nên nhận lời xây dựng Cửu Trùng Đài vì đây là cơ hội để Vũ đem tài ra phục vụ đất nước. Vũ đã nhận lời và dồn hết sức xây Cửu Trùng Đài. Nhưng Cửu Trùng Đài đã làm cho dân chúng thêm cực khổ. Họ đã nổi dậy. Vũ Như Tô bị giết, Cửu trùng Đài bị thiêu trụi.
2. Tìm hiểu chung
- Vở kịch “Vũ Như Tô” gồm 5 hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 – 1517.
- Tác phẩm được viết xong vào mùa hè năm 1941, tựa đề vào tháng 6 năm 1942.
- Đoạn trích: thuộc hồi thứ V (Một cung cấm) của vở kịch.
3. Tìm hiểu chi tiết
a. Những mâu thuẫn và cách giải quyết trong đoạn trích
- Mâu thuẫn trực tiếp thể hiện ở cuộc nổi dậy của binh lính và nhân dân chống lại triều đình: Đó là mâu thuẫn giữa đời sống xa hoa trụy lạc của Lê Tương Dực với đời sống cơ cực thống khổ của nhân dân lao động.
- Mâu thuẫn thứ hai là mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật thuần tuý và lợi ích thiết thực của nhân dân thể hiện ở mục đích xây dựng Cửu trùng đài của Vũ Như Tô và của triều đình Lê Tương Dực.
+ Mâu thuẫn này đã dẫn đến cái chết của Vũ như Tô và sự ra đi của Cửu Trùng đài.
+ Vũ Như Tô là một tài năng nhưng chính vì không giải quyết được mâu thuẫn giữa nghệ thuật và cuộc sống mà ông đã thất bại.
→ Người chiến sĩ thiên tài có khát vọng, hoài bão muốn mang cái đẹp đến cho đời, làm dân tộc tự hào vì trong một xã hội thối nát, người dân đói khổ triền miên trong lầm than.
+ Hoàn cảnh đất nước không tạo điều kiện cho Vũ Như Tô thực hiện điều đó
+ Vũ Như Tô nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm mượn uy quyền, tiền bạc của hôn quan Lê Tương Dực để thực hiện khát vọng xây dựng công trình nguy ng
+ Niềm khao khát sáng tạo, cống hiến lại đối nghịch với thực trạng lợi ích và mong muốn của nhân dân.
- Cuộc đối thoại giữa Đan Thiềm và Vũ Như Tô ở lớp I của hồi kịch cho thấy Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ chỉ biết vì nghệ thuật.
+ Ông không hiểu và không giải quyết được mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.
+ Ông là người tài chứ chưa phải người hiền tài. Mâu thuẫn đối lập ngay trong chính con người Vũ Như Tô.
- Mâu thuẫn giữa nhân dân với bọn hôn quân bạo chúa cùng phe cánh của chúng được giải quyết triệt để theo quan niệm của nhân dân:
Lê Tương Dực bị giết, Nguyễn Vũ – tự sát, đám cung nữ kẻ nổi loạn nhục mạ, bắt bớ.
- Mâu thuẫn thứ hai quan điểm nghệ thuật cao siêu, thuần túy với lợi ích của nhân dân chưa được tác giả giải quyết triệt để:
+ Vũ Như Tô tới lúc chết cũng không nhận ra lỗi lầm của mình
+ Vũ Như Tô không đứng về phía hôn quân, nhưng lại muốn lợi dụng quyền uy, tiền bạc của hắn để thực hiện ước mơ của mình.
- Những câu hỏi không có đáp án: Vũ Như Tô có công hay tội, ông đúng hay người giết ông đúng.
- Tác giả thể hiện tâm tư qua lời đề từ, cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm, điều này là cách lí giải hợp lí.
b. Tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm
* Nhân vật Vũ Như Tô
- Tính cách:
+ Là người nghệ sĩ tài ba, kiến trúc sư thiên tài, hiện thân của niềm khát khao và đam mê nghệ thuật, cái đẹp và sự sáng tạo.
+ Là một người nghệ sĩ có nhân cách lớn, có hoài bão, có lí tưởng nghệ thuật cao cả “ngàn năm chưa dễ có một”, “chỉ vẩy bút chim hoa hiện lên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa công, sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân”
+ Có những suy nghĩ lầm lạc trong hành động: Muốn xây một công trình cho muôn đời trong cảnh người dân đói khổ triền miên
- Diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô:
+ Tin rằng mình không có tội; bướng bỉnh, ảo vọng đeo đuổi mục tiêu.
+ Đau đớn, bàng hoàng thất vọng khi Cửu Trùng Đài bị phá hủy.
- Nhận xét: Vũ Như Tô đứng trên lập trường người nghệ sĩ mà không đứng trên lập trường của nhân dân.
* Nhân vật Đan Thiềm:
- Tính cách:
+ Là người đam mê cái tài, tôn thớ cái tài (thuyết phục Vũ Như Tô, sẵn sàng quên mình để bảo vệ Vũ Như Tô)
+ Tỉnh táo, thức thời hơn Vũ Như Tô: Biết chắc chắn việc xây Cửu Trùng Đài không thành nên Đan Thiềm nhiều lần giục Vũ Như Tô chạy trốn
- Diễn biến tâm trạng của Đan Thiềm:
+ Đau đớn nhận ra sự thất bại trong giấc mộng lớn Cửu Trùng Đài.
+ Nhiều lần khuyên Vũ Như Tô chạy trốn; đau đớn khi không cứu được Vũ Như Tô, vĩnh biệt Cửu Trùng Đài trong máu và nước mắt.
- Nhận xét: Đan Thiềm xứng đáng là tri kỉ của Vũ Như Tô. Tuy rằng hiều đời, hiểu người hơn Vũ Như Tô song vẫn lâm vào bi kịch tinh thần đau đớn.
c. Lời đề tựa của tác phẩm
Trong lời tựa đề vở kịch, Nguyễn Huy Tưởng có viết:
"Than ôi! Như Tô phải hay những người giết Như Tô phải? Ta chắng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm".
- Đây là phần cuối của lời đề tựa vở kịch Vũ Như Tô do chính Nguyễn Huy Tưởng viết ngày 6 tháng 2 năm 1942, sau khoảng một năm viết xong tác phẩm.
- Tựa là phần nằm ngoài văn bản của một tác phẩm, được viết ở đầu sách hoặc sau tiêu để của mỗi chương trong cuốn sách nhằm hướng người đọc vào ý đồ nghệ thuật của tác giá hoặc tư tưởng của tác phẩm.
- Qua lời để tựa trên, Nguyễn Huy Tưởng đã bộc lộ chân thành những băn khoăn của mình:
+ “Lẽ phải thuộc về Vũ Như Tô hay những kẻ giết Vũ Như Tô?”
+ Ông thú nhận "Ta chẳng biết", tức là không thể đưa ra một lời giải đáp thoả đáng.
+ Qua vở kịch, có thế thấy chân lí không hoàn toàn thuộc về phía nào: Việc mất Cửu Trùng Đài vừa nên mừng, vừa nên tiếc.
+ Đồng thời, nhà văn khẳng định: "Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm", tức là vì cảm phục "tài trời", vì nhạy cảm với bi kịch của những tài năng siêu Việt.
d. Giá trị nội dung
Qua tấn bi kịch của Vũ Như Tô, tác giả đã đặt ra vấn đề sâu sắc, có ý nghĩa muôn thủa về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống, giữa lí tưởng nghệ thuật thuần túy cao siêu muôn đời với lợi ích thiết thân và trực tiếp của nhân dân.
e. Giá trị nghệ thuật
- Mâu thuẫn kịch tập trung dẫn đến cao trào, phát triển thành đỉnh điểm với những hành động kịch dồn dập đầy kịch tính.
- Ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao.
- Xây dựng nhân vật kịch đặc sắc, khắc họa rõ tính cách, miêu tả đúng tâm trạng qua ngôn ngữ và hành động.
- Lớp kịch trong hồi V được chuyển một cách linh hoạt, tự nhiên, logic, liền mạch tạo nên sự hấp dẫn và lôi cuốn người đọc.
Tác phẩm Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Văn 11)
- I. Tác giả
- Nguyễn Du
- Cuộc đời:
- Xuất thân: Gia tộc vọng tộc, nhưng suy tàn
- Hoàn cảnh: Sống trong thời đại phong kiến mục ruỗng, đầy biến động
- Sự nghiệp: Quan lại, rồi cáo quan về quê, cuộc đời lận đận
- Phong cách nghệ thuật:
- Thơ ca sâu sắc, giàu cảm xúc
- Sử dụng ngôn ngữ tinh tế, điêu luyện
- Kết hợp yếu tố dân gian và bác học
- II. Hoàn cảnh sáng tác
- Thời gian: Năm 1802, sau khi Nguyễn Du bị cử đi làm quan ở Huế
- Nguyên nhân: Cảm xúc u uất, chán chường trước cuộc sống quan trường, nhớ quê hương, thương người
- III. Nội dung chính
- Chủ đề: Nỗi nhớ nước, thương người và khát vọng tự do.
- Nội dung cụ thể:
- Khung cảnh Cửu Trùng Đài:
- Vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ nhưng cô tịch, buồn bã
- Biểu tượng cho sự giàu sang, quyền lực nhưng đầy rẫy sự ngột ngạt, tù túng
- Nỗi nhớ nước, nhớ quê hương:
- Qua những hình ảnh gợi nhớ về cảnh vật, con người quê hương
- Thể hiện tình yêu nước sâu sắc, mãnh liệt
- Cảm xúc u uất, chán chường:
- Trước cuộc sống quan trường đầy rẫy sự giả dối, lọc lừa
- Khát vọng được sống tự do, thanh thản
- Tình thương người:
- Thương những người dân lao động nghèo khổ, bất hạnh
- Mong muốn một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi người
- Khung cảnh Cửu Trùng Đài:
- IV. Nghệ thuật
- Thể thơ: Thể thơ cổ phong (lục bát)
- Ngôn ngữ:
- Sử dụng nhiều từ Hán Việt cổ kính, trang trọng
- Hình ảnh giàu sức gợi tả, biểu tượng
- Giọng điệu biến đổi linh hoạt, phù hợp với nội dung
- Biện pháp tu từ:
- So sánh, ẩn dụ, nhân hóa
- Liệt kê, đối sánh
- Câu hỏi tu từ
- V. Giá trị của tác phẩm
- Giá trị nội dung: Thể hiện sâu sắc tình yêu nước, thương người, khát vọng tự do.
- Giá trị nghệ thuật: Sử dụng ngôn ngữ điêu luyện, hình ảnh giàu sức gợi tả, biểu tượng.
- Ý nghĩa: Khẳng định tài năng thơ ca của Nguyễn Du, góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam.
Gợi Ý Phương Pháp Tiếp Cận Cho Bài Học Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Văn 11)
Với định hướng phát triển năng lực của bộ sách , các bài tập trong phần Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Văn 11) thường không đơn thuần chỉ là việc áp dụng một công thức cứng nhắc. Môn Ngữ văn Lớp 11 yêu cầu sự tư duy liên kết rất cao. Đối với các câu hỏi lý thuyết, học sinh cần rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản, trích xuất từ khóa (keyword) quan trọng để trả lời đúng trọng tâm, tránh lan man. Đối với dạng bài tập tính toán hay suy luận logic, điều quan trọng nhất là phải tóm tắt được đề bài (đề bài cho dữ kiện gì, yêu cầu tìm đại lượng nào), sau đó phác thảo sơ đồ tư duy giải quyết vấn đề trước khi bắt tay vào giải chi tiết. Lời giải được cung cấp trong bài viết này đã tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc đó: luôn giải thích lý do tại sao lại sử dụng công thức/phương pháp này để các bạn dễ dàng theo kịp mạch tư duy.
Lưu Ý Quan Trọng Về Cách Trình Bày Bài Tập Môn Ngữ văn
Một bài giải hoàn hảo không chỉ cần đáp số chính xác mà còn phụ thuộc rất lớn vào cách trình bày. Đối với học sinh Lớp 11, việc rèn luyện kỹ năng trình bày khoa học, sạch đẹp là vô cùng cần thiết để ghi trọn vẹn điểm số trong các kỳ thi tự luận. Khi tham khảo lời giải Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Văn 11) trên website, các bạn hãy chú ý đến cấu trúc của một bài làm chuẩn mực. Nếu là một bài Toán/Lý/Hóa, hãy luôn nhớ ghi công thức tổng quát trước khi thay số, nhớ ghi đơn vị ở đáp số cuối cùng và có câu kết luận (Vậy...). Nếu là bài Văn/Sử/Địa, hãy trình bày thành các đoạn văn rõ ràng, có luận điểm, luận cứ rành mạch. Đừng bao giờ viết tắt những thuật ngữ chuyên ngành không được phép. Việc tuân thủ sự chỉn chu ngay từ khi làm bài tập về nhà sẽ giúp bạn tạo được thiện cảm rất lớn đối với giáo viên chấm bài.
Lời Khuyên Về Khả Năng Tự Nghiên Cứu Và Tham Khảo Khách Quan
Chúng tôi tạo ra chuyên trang lời giải sách môn Ngữ văn với mong muốn mang đến một "gia sư ảo" (virtual tutor) miễn phí, giúp các bạn học sinh tháo gỡ những khúc mắc ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kiến thức luôn mang tính đa chiều, đặc biệt đối với các câu hỏi mở, câu hỏi vận dụng sáng tạo (VDC) trong SGK. Đáp án mà chúng tôi đưa ra trong bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Văn 11) được xem là phương án tham khảo chuẩn mực và logic nhất, nhưng không phải là duy nhất. Chúng tôi luôn khuyến khích các bạn phát huy tư duy phản biện (Critical Thinking). Nếu bạn tìm ra một cách giải khác ngắn gọn hơn, thông minh hơn, hoặc có một góc nhìn lập luận sắc bén hơn so với bài giải mẫu, hãy mạnh dạn chia sẻ nó trong phần Bình luận (Comment) ở phía dưới trang. Điều đó chứng tỏ bạn đã thực sự thấu hiểu và làm chủ được môn học này.
Góc Thảo Luận Và Hỗ Trợ Chuyên Môn Trực Tuyến
Quá trình tự học môn Ngữ văn lớp 11 đôi khi sẽ khiến bạn cảm thấy đơn độc và bế tắc khi đối mặt với một vấn đề quá hóc búa. Đừng lo lắng! Chuyên mục hướng dẫn giải bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Văn 11) của chúng tôi được thiết kế đi kèm với hệ thống hỏi đáp tương tác trực tiếp. Nếu trong quá trình đối chiếu bài giải mà bạn phát hiện ra một dấu phép tính bị sai sót do lỗi đánh máy, hoặc có một bước biến đổi công thức nào đó quá tắt khiến bạn không hiểu được, xin vui lòng để lại ý kiến ngay lập tức. Đội ngũ giáo viên và các kiểm duyệt viên học thuật của website sẽ thường xuyên theo dõi các câu hỏi của học sinh để giải đáp, giải thích lại cặn kẽ (reply) trong thời gian sớm nhất, đảm bảo luồng kiến thức bạn tiếp nhận luôn được thông suốt và chính xác tuyệt đối.