Đề thi học kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 2
Tổng quan nội dung
Lời Giải Chi Tiết: Đề thi học kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 2
Bạn đang theo dõi bài viết hướng dẫn chi tiết Đề thi học kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 2 thuộc chương trình môn Ngữ văn Lớp 7 của bộ sách . Để hoàn thành tốt bài học này, học sinh cần nắm vững các lý thuyết trọng tâm đã được thầy cô giảng dạy trên lớp, từ đó vận dụng linh hoạt vào việc phân tích và giải quyết các câu hỏi, bài tập thực hành. Bài viết dưới đây được biên soạn bởi đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, trình bày tuần tự và rõ ràng lời giải cho từng mục trong SGK (bao gồm cả các câu hỏi thảo luận Khởi động/Khám phá lẫn bài tập tự luận cuối bài). Hãy đọc kỹ từng bước hướng dẫn (step-by-step) để hiểu rõ bản chất vấn đề thay vì chỉ sao chép kết quả cuối cùng nhé.
Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ.
Đề thi
Phần I: ĐỌC – HIỂU (4 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ. […] Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa. Và khi không còn nhu cầu đó nữa, thì đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn mỏi đi, cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng. Đây là một câu chuyện nghiêm túc, lâu dài và cần được trao đổi, thảo luận một cách cũng rất nghiêm túc, lâu dài. Tôi chỉ muốn thử nêu lên ở đây một đề nghị: Tôi đề nghị các tổ chức thanh niên của chúng ta, bên cạnh những sinh hoạt thường thấy hiện nay, nên có một cuộc vận dộng đọc sách trong thanh niên cả nước; và vận dộng từng nhà gây dựng tủ sách gia đình.
Gần đây có một nước đã phát động phong trào trong toàn quốc mỗi người mỗi ngày đọc lấy 20 dòng sách. Chúng ta cũng có thể làm như thế, hoặc vận động mỗi người trong mỗi năm đọc lấy một cuốn sách. Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ, không quá khó. Việc nhỏ đấy nhưng rất có thể là việc nhỏ khởi đầu một công cuộc lớn.
(Theo Nguyên Ngọc, Một đề nghị, tạp chí Điện tử Tiasang.com.vn, ngày 19/7/2007)
Câu 1. Văn bản trên mang đặc trưng của thể loại nào?
A. Nghị luận văn học
B. Nghị luận xã hội
C. Văn bản văn học
D. Văn bản thông tin
Câu 2. Câu văn Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ. là yếu tố nào trong văn bản.?
A. Ý kiến của người viết
B. Lí lẽ của người viết
C. Bằng chứng được đưa ra
D. Luận điểm của văn bản
Câu 3. Lời đề nghị phát triển phong trào đọc sách mà tác giả gửi gắm trong bài viết hướng đến đối tượng nào sau đây?
A. Các bạn học sinh, sinh viên trong các nhà trường
B. Lứa tuổi thanh niên và các tổ chức thanh niên
C. Những người yêu sách, thích đọc sách
D. Mỗi người, mỗi gia đình
Câu 4. Vì sao cách xưng hô của tác giả lại chuyển từ tôi sang chúng ta?
A. Vì tác giả muốn bộc lộ rõ ý kiến cá nhân
B. Vì tác giả bị nhầm lẫn từ ngữ xưng hô
C. Vì muốn bộc lộ ý kiến cá nhân và khơi gợi sự đồng cảm nơi người đọc
D. Vì tác giả muốn thay đổi cách xưng hô cho phong phú
Câu 5. Theo tác giả, “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa” và khi đó con người sẽ như thế nào?
A. con người sẽ không còn hứng thú với cuộc sống, đời sống tinh thần nghèo nàn
B. tâm hồn của con người sẽ úa tàn, đời sống tẻ nhạt, không có hứng thú làm việc
C. đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn mỏi đi, cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng
D. con người rơi vào tình trạng sống hoài sống phí, không có động lực làm việc, xã hội chậm phát triển
Câu 6. Trong các cách hiểu sau về từ “sách”, cách hiểu nào từ “sách” được dùng là một thuật ngữ khoa học?
A. là tập hợp một số lượng nhất định những tờ giấy có chữ in, đóng gộp lại thành quyển
B. là nơi lưu giữ tri thức nhân loại được các nhà biên soạn sắp xếp theo một trình tự hợp lí để người đọc dễ nắm bắt nội dung
C. là nơi cung cấp những bài học cuộc sống thú vị giúp người đọc nhìn nhận cuộc sống đa chiều, sâu sắc hơn
D. là nơi giãi bày tâm tư, tình cảm của mọi người, đem lại những giá trị chân – thiện – mĩ
Câu 7. Em có đồng tình với quan điểm của tác giả: “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa” không?
A. Không đồng tình
B. Đồng tình
Câu 8. Trong đoạn trích trên, để phát động mọi người tích cực đọc sách, tác giả đã đưa ta lời đề nghị gì?
A. Phát động phong trào trong toàn quốc mỗi người mỗi ngày đọc lấy 20 dòng sách, cố gắng mỗi ngày đọc được một cuốn sách có giá trị cho mình
B. Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ đó là đọc sách nhưng rất có thể việc nhỏ này lại khởi đầu một công cuộc lớn cho cuộc đời mỗi con người
C. Vận động mỗi người trong mỗi năm đọc lấy một cuốn sách, tích tiểu thành đại và cứ như thế trong mười năm ít nhất mỗi người cũng đọc được mười cuốn sách có giá trị
D. Nên có một cuộc vận động đọc sách trong thanh niên cả nước; và vận động từng nhà gây dựng tủ sách gia đình
Câu 9. Theo em, vì sao tác giả cho rằng: “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa”?
Câu 10. Thông điệp mà tác giả gửi gắm qua đoạn trích?
Phần II: TẬP LÀM VĂN (6 điểm)
Câu 1. Xác định các phép liên kết có trong các đoạn trích sau:
a. Một anh thanh niên hai mươi bảy tuổi! Đây là đỉnh Yên Sơn, cao hai nghìn sáu trăm mét. Anh ta làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu.
b. Tôi ngẩng cao đầu mới thấy tuổi của bà; chứ cứ nhìn bà chặt củi, nhổ sắn, nhìn bà đứng, bà đi thì không ai biết bà đã gần bảy mươi. Bà làm nhanh, đi nhanh, lưng thẳng. Bà không hút thuốc lào như u tôi, không ăn giầu.
c. Có cây lược anh càng mong gặp con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám- năm đó ta chưa võ trang- trong một trận càn của quân Mĩ - ngụy, anh Sáu bị hi sinh. Anh bị viên đạn của máy bay Mĩ bắn vào ngực.
d. Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân và phong kiến.
Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa.
(Hồ Chí Minh, Về vấn đề giáo dục)
Câu 2. Em hãy giới thiệu về một trò chơi hay hoạt động với mọi người bằng một bài văn thuyết minh.
Đáp án
Phần I:
Câu 1 (0.25 điểm):
Văn bản trên mang đặc trưng của thể loại nào? A. Nghị luận văn học B. Nghị luận xã hội C. Văn bản văn học D. Văn bản thông tin |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên mang đặc trưng của thể loại nghị luận xã hội
=> Đáp án: B
Câu 2 (0.25 điểm):
Câu văn Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ. là yếu tố nào trong văn bản.? A. Ý kiến của người viết B. Lí lẽ của người viết C. Bằng chứng được đưa ra D. Luận điểm của văn bản |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Câu văn Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ. là yếu tố “Ý kiến của người viết” trong văn bản
=> Đáp án: A
Câu 3 (0.25 điểm):
Lời đề nghị phát triển phong trào đọc sách mà tác giả gửi gắm trong bài viết hướng đến đối tượng nào sau đây? A. Các bạn học sinh, sinh viên trong các nhà trường B. Lứa tuổi thanh niên và các tổ chức thanh niên C. Những người yêu sách, thích đọc sách D. Mỗi người, mỗi gia đình |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Lời đề nghị phát triển phong trào đọc sách mà tác giả gửi gắm trong bài viết hướng đến đối tượng: Mỗi người, mỗi gia đình
=> Đáp án: D
Câu 4 (0.25 điểm):
Vì sao cách xưng hô của tác giả lại chuyển từ tôi sang chúng ta? A. Vì tác giả muốn bộc lộ rõ ý kiến cá nhân B. Vì tác giả bị nhầm lẫn từ ngữ xưng hô C. Vì muốn bộc lộ ý kiến cá nhân và khơi gợi sự đồng cảm nơi người đọc D. Vì tác giả muốn thay đổi cách xưng hô cho phong phú |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích, chú ý cách thay đổi đại từ nhân xưng
Lời giải chi tiết:
Cách xưng hô của tác giả lại chuyển từ tôi sang chúng ta vì muốn bộc lộ ý kiến cá nhân và khơi gợi sự đồng cảm nơi người đọc
=> Đáp án: C
Câu 5 (0.25 điểm):
Theo tác giả, “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa” và khi đó con người sẽ như thế nào? A. con người sẽ không còn hứng thú với cuộc sống, đời sống tinh thần nghèo nàn B. tâm hồn của con người sẽ úa tàn, đời sống tẻ nhạt, không có hứng thú làm việc C. đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn mỏi đi, cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng D. con người rơi vào tình trạng sống hoài sống phí, không có động lực làm việc, xã hội chậm phát triển |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Theo tác giả, “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa” và khi đó đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn mỏi đi, cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng
=> Đáp án: C
Câu 6 (0.25 điểm):
Trong các cách hiểu sau về từ “sách”, cách hiểu nào từ “sách” được dùng là một thuật ngữ khoa học? A. là tập hợp một số lượng nhất định những tờ giấy có chữ in, đóng gộp lại thành quyển B. là nơi lưu giữ tri thức nhân loại được các nhà biên soạn sắp xếp theo một trình tự hợp lí để người đọc dễ nắm bắt nội dung C. là nơi cung cấp những bài học cuộc sống thú vị giúp người đọc nhìn nhận cuộc sống đa chiều, sâu sắc hơn D. là nơi giãi bày tâm tư, tình cảm của mọi người, đem lại những giá trị chân – thiện – mĩ |
Phương pháp giải:
Xác định nghĩa của từ theo thuật ngữ
Lời giải chi tiết:
Sách là tập hợp một số lượng nhất định những tờ giấy có chữ in, đóng gộp lại thành quyển
=> Đáp án: A
Câu 7 (0.25 điểm):
Em có đồng tình với quan điểm của tác giả: “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa” không? A. Không đồng tình B. Đồng tình |
Phương pháp giải:
Đọc và nêu ý kiến
Lời giải chi tiết:
Đồng tình
=> Đáp án: B
Câu 8 (0.25 điểm):
Trong đoạn trích trên, để phát động mọi người tích cực đọc sách, tác giả đã đưa ta lời đề nghị gì? A. Phát động phong trào trong toàn quốc mỗi người mỗi ngày đọc lấy 20 dòng sách, cố gắng mỗi ngày đọc được một cuốn sách có giá trị cho mình B. Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ đó là đọc sách nhưng rất có thể việc nhỏ này lại khởi đầu một công cuộc lớn cho cuộc đời mỗi con người C. Vận động mỗi người trong mỗi năm đọc lấy một cuốn sách, tích tiểu thành đại và cứ như thế trong mười năm ít nhất mỗi người cũng đọc được mười cuốn sách có giá trị D. Nên có một cuộc vận động đọc sách trong thanh niên cả nước; và vận động từng nhà gây dựng tủ sách gia đình |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Nên có một cuộc vận động đọc sách trong thanh niên cả nước; và vận động từng nhà gây dựng tủ sách gia đình
=> Đáp án: D
Câu 9 (1.0 điểm):
Theo em, vì sao tác giả cho rằng: “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa”? |
Phương pháp giải:
Đọc và giải thích đúng nghĩa câu văn
Lời giải chi tiết:
Tác giả cho rằng: “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa”, có nghĩa là: Không đọc sách thì không có nhu cầu tìm hiểu, mở mang kiến thức, đời sống tinh thần nghèo đi, cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng.
Câu 10 (1.0 điểm):
Thông điệp mà tác giả gửi gắm qua đoạn trích? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích và nêu được thông điệp mà tá giả gửi gắm
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
- Từ việc khẳng định đọc sách là biểu hiện của con người có cuộc sống trí tuệ, không đọc sách sẽ có nhiều tác hại tác giả đã đưa ra lời đề nghị về phong trào đọc sách và nâng cao ý thức đọc sách ở mọi người.
- Đọc sách là để mở mang kiến thức, làm phong phú đời sống tinh thần, là cách để xây dựng nền tảng cuộc sống đạo đức. Vì thế cần tích cực đọc sách.
Phần II (7 điểm)
Câu 1 (2 điểm):
Tìm các phép liên kết có trong các đoạn trích sau: a, Một anh thanh niên hai mươi bảy tuổi! Đây là đỉnh Yên Sơn, cao hai nghìn sáu trăm mét. Anh ta làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu. b, Tôi ngẩng cao đầu mới thấy tuổi của bà; chứ cứ nhìn bà chặt củi, nhổ sắn, nhìn bà đứng, bà đi thì không ai biết bà đã gần bảy mươi. Bà làm nhanh, đi nhanh, lưng thẳng. Bà không hút thuốc lào như u tôi, không ăn giầu. c, Có cây lược anh càng mong gặp con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám- năm đó ta chưa võ trang- trong một trận càn của quân Mĩ - ngụy, anh Sáu bị hi sinh. Anh bị viên đạn của máy bay Mĩ bắn vào ngực. d. Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân và phong kiến. Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa. (Hồ Chí Minh, Về vấn đề giáo dục) |
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về các phép liên kết trong câu
Lời giải chi tiết:
a. Phép thế
b. Phép lặp
c. Phép nối
d. Phép lặp
Câu 2 (5 điểm):
Em hãy giới thiệu về một trò chơi hay hoạt động với mọi người bằng một bài văn thuyết minh. |
Phương pháp giải:
- Giới thiệu được những thông tin cần thiết về trò chơi hay hoạt động (hoàn cảnh diễn ra, đối tượng tham gia)
- Miêu tả được quy tắc hoặc luật lệ của trò chơi hay hoạt động
- Nêu được vai trò, tác dụng của trò chơi hay hoạt động đối với con người
- Nêu được ý nghĩa của trò chơi hay hoạt động
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo:
Việt Nam là một trong những nước có nền văn hóa dân gian đặc sắc, ngoài việc biểu hiện qua các câu hát dân gian thì còn thể hiện qua các trò chơi, trong đó phải kể đến trò chơi nhảy dây.
Nhảy dây được xem là một trò chơi dân gian vô cùng quen thuộc, đặc biệt là ở những vùng quê, vùng nông thôn ở Việt Nam. Dường như cũng giống như trò chơi chi chi chành chành hay chơi xóc hòn thì trò nhảy dây ở đây cũng vô cùng đơn giản. Bạn cũng chỉ cần một sợi dây là mọi người có thể tham gia. Một trong những đặc trưng riêng biệt của các trò chơi dân gian đó chính là tính cộng đồng cao. Có lẽ cũng chính bởi vậy mà bất kể trò chơi dân gian nào cũng đòi hỏi sự tham gia của cả tập thể, nó cũng đã giúp gắn kết quan hệ giữa người và người trong một cộng đồng. Trò chơi này cũng sẽ mang tính giải trí cao bởi thời gian lễ hội diễn ra các trò chơi dân gian thường là vào khoảng thời gian nông nhàn rỗi nhất là trong sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt vào cuối những mùa vụ, khi những người nông dân đã hoàn thành công tác mùa vụ, đang trong thời gian chờ bước vào mùa vụ mới tiếp theo.
Có thể thấy được rằng chính trò chơi dân gian nhảy dây cũng có rất nhiều phiên bản và nhiều hình thức chơi. Cũng chính bởi ở những nơi khác nhau thì con người lại có xu hướng chơi những hình thức mà mình cho là thú vị nhất, phù hợp nhất với mình. Trước hết, ta có thể thấy được nói đến trò chơi nhảy dây truyền thống, đây chính là trò chơi đòi hỏi sự nhạy bén, tinh tế và sự khéo léo của đôi chân. Theo đó, ta thấy được sợi dây sẽ dùng trong trò chơi dân gian này chính là dây thừng, hay đó có thể chính là dây chão và đây đều là những thứ rất dễ tìm trong cuộc sống xưa vì chính nó là thứ dùng để trói, buộc đồ đạc của người nông dân.
Người chơi sẽ bao gồm từ năm đến mười người, chia ra làm hai nhóm, một nhóm sẽ đảm nhận nhiệm vụ quất dây. Và ta như có thể thấy được chính nhiệm vụ này cần có hai người, mỗi người đứng ở một đầu dây của sợi dây và cũng như cùng ăn ý cùng quất sợi dây theo hướng xuôi kim đồng hồ. Quả thật, mới nghe thì có vẻ dễ dàng nhưng nhiệm vụ này đỏi hỏi sự nhịp nhàng của bàn tay, sự ăn ý của đồng đội, bởi nếu như mà một người quất nhanh, một người quất chậm thì sợi dây thừng sẽ bị rối và đương nhiên rằng chính người chơi sẽ không thể nhảy vào sợi dây được. Và khi sợi dây thừng được quất lên sẽ tạo thành một vòng cung, nó phải có bán kính cao hơn đầu một người, bởi chỉ có như vậy người chơi mới có thể nhảy vào sợi dây, tương tác cùng với nó.
Đây là một trò chơi dân gian hết sức gần gũi với chúng ta, và nó không chỉ mang được tinh thần rèn luyện sức khỏe mà còn nói lên được sự đoàn kết, tinh thần đồng đội của chúng ta.
Gợi Ý Phương Pháp Tiếp Cận Cho Bài Học Đề thi học kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 2
Với định hướng phát triển năng lực của bộ sách , các bài tập trong phần Đề thi học kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 2 thường không đơn thuần chỉ là việc áp dụng một công thức cứng nhắc. Môn Ngữ văn Lớp 7 yêu cầu sự tư duy liên kết rất cao. Đối với các câu hỏi lý thuyết, học sinh cần rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản, trích xuất từ khóa (keyword) quan trọng để trả lời đúng trọng tâm, tránh lan man. Đối với dạng bài tập tính toán hay suy luận logic, điều quan trọng nhất là phải tóm tắt được đề bài (đề bài cho dữ kiện gì, yêu cầu tìm đại lượng nào), sau đó phác thảo sơ đồ tư duy giải quyết vấn đề trước khi bắt tay vào giải chi tiết. Lời giải được cung cấp trong bài viết này đã tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc đó: luôn giải thích lý do tại sao lại sử dụng công thức/phương pháp này để các bạn dễ dàng theo kịp mạch tư duy.
Lưu Ý Quan Trọng Về Cách Trình Bày Bài Tập Môn Ngữ văn
Một bài giải hoàn hảo không chỉ cần đáp số chính xác mà còn phụ thuộc rất lớn vào cách trình bày. Đối với học sinh Lớp 7, việc rèn luyện kỹ năng trình bày khoa học, sạch đẹp là vô cùng cần thiết để ghi trọn vẹn điểm số trong các kỳ thi tự luận. Khi tham khảo lời giải Đề thi học kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 2 trên website, các bạn hãy chú ý đến cấu trúc của một bài làm chuẩn mực. Nếu là một bài Toán/Lý/Hóa, hãy luôn nhớ ghi công thức tổng quát trước khi thay số, nhớ ghi đơn vị ở đáp số cuối cùng và có câu kết luận (Vậy...). Nếu là bài Văn/Sử/Địa, hãy trình bày thành các đoạn văn rõ ràng, có luận điểm, luận cứ rành mạch. Đừng bao giờ viết tắt những thuật ngữ chuyên ngành không được phép. Việc tuân thủ sự chỉn chu ngay từ khi làm bài tập về nhà sẽ giúp bạn tạo được thiện cảm rất lớn đối với giáo viên chấm bài.
Lời Khuyên Về Khả Năng Tự Nghiên Cứu Và Tham Khảo Khách Quan
Chúng tôi tạo ra chuyên trang lời giải sách môn Ngữ văn với mong muốn mang đến một "gia sư ảo" (virtual tutor) miễn phí, giúp các bạn học sinh tháo gỡ những khúc mắc ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kiến thức luôn mang tính đa chiều, đặc biệt đối với các câu hỏi mở, câu hỏi vận dụng sáng tạo (VDC) trong SGK. Đáp án mà chúng tôi đưa ra trong bài Đề thi học kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 2 được xem là phương án tham khảo chuẩn mực và logic nhất, nhưng không phải là duy nhất. Chúng tôi luôn khuyến khích các bạn phát huy tư duy phản biện (Critical Thinking). Nếu bạn tìm ra một cách giải khác ngắn gọn hơn, thông minh hơn, hoặc có một góc nhìn lập luận sắc bén hơn so với bài giải mẫu, hãy mạnh dạn chia sẻ nó trong phần Bình luận (Comment) ở phía dưới trang. Điều đó chứng tỏ bạn đã thực sự thấu hiểu và làm chủ được môn học này.
Góc Thảo Luận Và Hỗ Trợ Chuyên Môn Trực Tuyến
Quá trình tự học môn Ngữ văn lớp 7 đôi khi sẽ khiến bạn cảm thấy đơn độc và bế tắc khi đối mặt với một vấn đề quá hóc búa. Đừng lo lắng! Chuyên mục hướng dẫn giải bài Đề thi học kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 2 của chúng tôi được thiết kế đi kèm với hệ thống hỏi đáp tương tác trực tiếp. Nếu trong quá trình đối chiếu bài giải mà bạn phát hiện ra một dấu phép tính bị sai sót do lỗi đánh máy, hoặc có một bước biến đổi công thức nào đó quá tắt khiến bạn không hiểu được, xin vui lòng để lại ý kiến ngay lập tức. Đội ngũ giáo viên và các kiểm duyệt viên học thuật của website sẽ thường xuyên theo dõi các câu hỏi của học sinh để giải đáp, giải thích lại cặn kẽ (reply) trong thời gian sớm nhất, đảm bảo luồng kiến thức bạn tiếp nhận luôn được thông suốt và chính xác tuyệt đối.