Giải Bài tập tiếng Việt trang 37 sách bài tập Ngữ văn 9 - Cánh diều

Tổng quan nội dung

Lời Giải Chi Tiết: Giải Bài tập tiếng Việt trang 37 sách bài tập Ngữ văn 9 - Cánh diều

Bạn đang theo dõi bài viết hướng dẫn chi tiết Giải Bài tập tiếng Việt trang 37 sách bài tập Ngữ văn 9 - Cánh diều thuộc chương trình môn Ngữ văn Lớp 9 của bộ sách . Để hoàn thành tốt bài học này, học sinh cần nắm vững các lý thuyết trọng tâm đã được thầy cô giảng dạy trên lớp, từ đó vận dụng linh hoạt vào việc phân tích và giải quyết các câu hỏi, bài tập thực hành. Bài viết dưới đây được biên soạn bởi đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, trình bày tuần tự và rõ ràng lời giải cho từng mục trong SGK (bao gồm cả các câu hỏi thảo luận Khởi động/Khám phá lẫn bài tập tự luận cuối bài). Hãy đọc kỹ từng bước hướng dẫn (step-by-step) để hiểu rõ bản chất vấn đề thay vì chỉ sao chép kết quả cuối cùng nhé.

(Bài tập 1, SGK) Mỗi lời dẫn (in đậm) ở bên A thuộc cách dẫn nào ở bên B?

Câu 1

Trả lời Câu hỏi 1 trang 37 SBT Văn 9 Cánh diều

(Bài tập 1, SGK) Mỗi lời dẫn (in đậm) ở bên A thuộc cách dẫn nào ở bên B?

A. Lời dẫn

B. Cách dẫn

a) Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy! (Kim Lân)

1) Dẫn trực tiếp ý nghĩ của nhân vật

b) Bà Hai bỗng lại cất tiếng:

– Thầy nó ngủ rồi ư? Dậy tôi bảo cái này đã. (Kim Lân)

2) Dẫn gián tiếp lời nói thành tiếng của nhân vật

c) Anh tìm vô nhà gặp mạ, kể với mạ anh ấy gặp cậu đang theo bộ đội đi qua bên mặt trận,... (Phùng Quán)

3) Dẫn trực tiếp lời nói thành tiếng của nhân vật

d) Trong đầu tôi chợt nảy ra một ước mơ rất trẻ con: “Biết đâu, có lúc nào đó mình cũng làm được một chiếc xe như thế nhỉ?”. (Hon-đa Sô-i-chi-rô – Honda Soichiro)

4) Dẫn gián tiếp ý nghĩ của nhân vật

Phương pháp giải:

Vận dụng kiến thức đã học về cách dẫn trực tiếp, dẫn gián tiếp

Lời giải chi tiết:

a - 4

b - 3

c - 2

d - 1

Câu 2

Trả lời Câu hỏi 2 trang 38 SBT Văn 9 Cánh diều

(Bài tập 2, SGK) Tìm lời dẫn trong những đoạn văn dưới đây. Xác định các trường hợp: dẫn lời nói thành tiếng, dẫn lời văn, dẫn ý nghĩ; dẫn trực tiếp, dẫn gián tiếp. Chỉ ra đặc điểm giúp em nhận biết mỗi cách dẫn và sự phù hợp của cách dẫn đó trong mỗi đoạn văn.

a) Bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.”. (Hồ Chí Minh)

b) Ông kể lại hôm Tây vào khủng bố. Chúng nó có bao nhiêu thằng, bao nhiêu Tây, bao nhiêu Việt gian, đi những đường nào, đốt phá những đâu đâu, và dân quân, tự vệ làng ông bố trí, cầm cự ra sao, rành rọt, tỉ mỉ như chính ông lão vừa mới dự trận đánh ấy xong... (Kim Lân)

c) Hoạ sĩ nghĩ thầm: “Khách tới bất ngờ, chắc cu cậu chưa kịp quét tước dọn dẹp, chưa kịp gấp chăn chẳng hạn.”. (Nguyễn Thành Long)

Phương pháp giải:

Vận dụng kiến thức đã học về cách dẫn trực tiếp, cách dẫn gián tiếp

Lời giải chi tiết:

a) Lời dẫn trong đoạn văn: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lời và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.” => Lời dẫn trực tiếp vì lời dẫn được dẫn nguyên văn và dấu hiệu nhận biết là dấu hai chấm, ngoặc kép

b) Lời dẫn trong đoạn văn: Chúng nó có bao nhiêu thằng, bao nhiêu Tây, bao nhiêu Việt gian, đi những đường nào, đốt phá những đâu đâu và dân quân, tự vệ làng ông bố trí, cầm cự ra sao, rành rọt, tỉ mỉ như chính ông lão vừa mới dự trận đánh giặc ấy xong thật… => Lời dẫn gián tiếp vì lời dẫn không trích y nguyên lời nói của nhân vật mà đã điều chỉnh, thay đổi theo lời người thuật lại.

c) Lời dẫn trong đoạn văn: “Khách tới bất ngờ, chắc cu cậu chưa kịp quét tước dọn dẹp, chưa kịp gấp chăn chẳng hạn.”. => Lời dẫn trực tiếp ý nghĩ của nhân vật. Lời dẫn được tách ra khỏi phần đứng trước bằng dấu hai chấm và dấu ngoặc kép.

Câu 3

Trả lời Câu hỏi 3 trang 38 SBT Văn 9 Cánh diều

Có thể chuyển lời dẫn trực tiếp trong mỗi đoạn văn dưới đây thành lời dẫn gián tiếp không? Vì sao?

a) Văn Cao đã kể lại những kỉ niệm của buổi hôm đó: “Bài Tiến quân ca đã nổ như một trái bom. Nước mắt tôi trào ra. Xung quanh tôi, hàng ngàn giọng hát cất lên theo những đoạn sôi nổi...”. (Theo Ngọc An)

b) Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nói: “Tôi sống ngày nào cũng là vì đất nước ngày đó.”. (Theo Trần Thị Ngọc Luyến)

c) Vừa đến ngõ, ông lão đã lên tiếng:

– Chúng mày đâu rồi, ra thầy chia quà cho nào. (Kim Lân)

d) Bà ngoại nó vừa vuốt tóc nó vừa dỗ: 

– Cháu của ngoại giỏi lắm mà! Cháu để ba cháu đi rồi ba sẽ mua về cho cháu một cây lược. (Nguyễn Quang Sáng)

Phương pháp giải:

Vận dụng kiến thức đã học về cách dẫn gián tiếp, cách dẫn trực tiếp

Lời giải chi tiết:

a. Lời dẫn trực tiếp không thể chuyển thành lời dẫn gián tiếp vì gồm một chuỗi câu là lời của nhân vật (Văn Cao) thuật lại tâm trạng của mình.

b. Lời dẫn trực tiếp không thể chuyển thành lời dẫn gián tiếp vì đây là lời của nhân vật (Võ Nguyên Giáp) thuật lại lẽ sống của mình.

c. Lời dẫn trực tiếp có thể chuyển thành lời dẫn gián tiếp vì có thể thuật lại lời nói của nhân vật ông lão.

d. Lời dẫn trực tiếp có thể chuyển thành lời dẫn gián tiếp vì có thể thuật lời nói của nhân vật bà ngoại.

Câu 4

Trả lời Câu hỏi 4 trang 39 SBT Văn 9 Cánh diều

Trong những lời dẫn gián tiếp (in đậm) dưới đây, lời dẫn nào có thể chuyển thành lời dẫn trực tiếp, lời dẫn nào không thể chuyển được? Vì sao?

a) Em đoán chắc lúc ni Nghi đang ngồi nói chuyện với mạ. Mạ rót nước cho Nghi uống, lấy bánh tét, bánh ít cho Nghi ăn. (Phùng Quán)

b) Mạ dặn nói lại với cậu mạ không giận chuyện con trốn nhà đi Vệ quốc đoàn mô. (Phùng Quán)

c) Thấy nó luýnh quýnh, tôi vừa thấy tội nghiệp, vừa buồn cười, nghĩ chắc thế nào nó cũng chịu thua. (Nguyễn Quang Sáng)

Phương pháp giải:

Vận dụng kiến thức đã học về cách dẫn gián tiếp, cách dẫn trực tiếp

Lời giải chi tiết:

Lời dẫn gián tiếp ở trường hợp a) có thể chuyển thành lời dẫn trực tiếp vì từ ngữ trong lời dẫn là của nhân vật “Mừng”. Việc chuyển lời dẫn gián tiếp này thành lời dẫn trực tiếp được thực hiện bằng cách: thêm dấu hai chấm vào sau từ đoản, viết hoa từ chắc, đặt lời dẫn trong dáu ngoặc kép,...

Gợi Ý Phương Pháp Tiếp Cận Cho Bài Học Giải Bài tập tiếng Việt trang 37 sách bài tập Ngữ văn 9 - Cánh diều

Với định hướng phát triển năng lực của bộ sách , các bài tập trong phần Giải Bài tập tiếng Việt trang 37 sách bài tập Ngữ văn 9 - Cánh diều thường không đơn thuần chỉ là việc áp dụng một công thức cứng nhắc. Môn Ngữ văn Lớp 9 yêu cầu sự tư duy liên kết rất cao. Đối với các câu hỏi lý thuyết, học sinh cần rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản, trích xuất từ khóa (keyword) quan trọng để trả lời đúng trọng tâm, tránh lan man. Đối với dạng bài tập tính toán hay suy luận logic, điều quan trọng nhất là phải tóm tắt được đề bài (đề bài cho dữ kiện gì, yêu cầu tìm đại lượng nào), sau đó phác thảo sơ đồ tư duy giải quyết vấn đề trước khi bắt tay vào giải chi tiết. Lời giải được cung cấp trong bài viết này đã tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc đó: luôn giải thích lý do tại sao lại sử dụng công thức/phương pháp này để các bạn dễ dàng theo kịp mạch tư duy.

Lưu Ý Quan Trọng Về Cách Trình Bày Bài Tập Môn Ngữ văn

Một bài giải hoàn hảo không chỉ cần đáp số chính xác mà còn phụ thuộc rất lớn vào cách trình bày. Đối với học sinh Lớp 9, việc rèn luyện kỹ năng trình bày khoa học, sạch đẹp là vô cùng cần thiết để ghi trọn vẹn điểm số trong các kỳ thi tự luận. Khi tham khảo lời giải Giải Bài tập tiếng Việt trang 37 sách bài tập Ngữ văn 9 - Cánh diều trên website, các bạn hãy chú ý đến cấu trúc của một bài làm chuẩn mực. Nếu là một bài Toán/Lý/Hóa, hãy luôn nhớ ghi công thức tổng quát trước khi thay số, nhớ ghi đơn vị ở đáp số cuối cùng và có câu kết luận (Vậy...). Nếu là bài Văn/Sử/Địa, hãy trình bày thành các đoạn văn rõ ràng, có luận điểm, luận cứ rành mạch. Đừng bao giờ viết tắt những thuật ngữ chuyên ngành không được phép. Việc tuân thủ sự chỉn chu ngay từ khi làm bài tập về nhà sẽ giúp bạn tạo được thiện cảm rất lớn đối với giáo viên chấm bài.

Lời Khuyên Về Khả Năng Tự Nghiên Cứu Và Tham Khảo Khách Quan

Chúng tôi tạo ra chuyên trang lời giải sách môn Ngữ văn với mong muốn mang đến một "gia sư ảo" (virtual tutor) miễn phí, giúp các bạn học sinh tháo gỡ những khúc mắc ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kiến thức luôn mang tính đa chiều, đặc biệt đối với các câu hỏi mở, câu hỏi vận dụng sáng tạo (VDC) trong SGK. Đáp án mà chúng tôi đưa ra trong bài Giải Bài tập tiếng Việt trang 37 sách bài tập Ngữ văn 9 - Cánh diều được xem là phương án tham khảo chuẩn mực và logic nhất, nhưng không phải là duy nhất. Chúng tôi luôn khuyến khích các bạn phát huy tư duy phản biện (Critical Thinking). Nếu bạn tìm ra một cách giải khác ngắn gọn hơn, thông minh hơn, hoặc có một góc nhìn lập luận sắc bén hơn so với bài giải mẫu, hãy mạnh dạn chia sẻ nó trong phần Bình luận (Comment) ở phía dưới trang. Điều đó chứng tỏ bạn đã thực sự thấu hiểu và làm chủ được môn học này.

Góc Thảo Luận Và Hỗ Trợ Chuyên Môn Trực Tuyến

Quá trình tự học môn Ngữ văn lớp 9 đôi khi sẽ khiến bạn cảm thấy đơn độc và bế tắc khi đối mặt với một vấn đề quá hóc búa. Đừng lo lắng! Chuyên mục hướng dẫn giải bài Giải Bài tập tiếng Việt trang 37 sách bài tập Ngữ văn 9 - Cánh diều của chúng tôi được thiết kế đi kèm với hệ thống hỏi đáp tương tác trực tiếp. Nếu trong quá trình đối chiếu bài giải mà bạn phát hiện ra một dấu phép tính bị sai sót do lỗi đánh máy, hoặc có một bước biến đổi công thức nào đó quá tắt khiến bạn không hiểu được, xin vui lòng để lại ý kiến ngay lập tức. Đội ngũ giáo viên và các kiểm duyệt viên học thuật của website sẽ thường xuyên theo dõi các câu hỏi của học sinh để giải đáp, giải thích lại cặn kẽ (reply) trong thời gian sớm nhất, đảm bảo luồng kiến thức bạn tiếp nhận luôn được thông suốt và chính xác tuyệt đối.