Giải bài tập tiếng Việt trang 19 sách bài tập văn 11 - Cánh diều
Tổng quan nội dung
Lời Giải Chi Tiết: Giải bài tập tiếng Việt trang 19 sách bài tập văn 11 - Cánh diều
Bạn đang theo dõi bài viết hướng dẫn chi tiết Giải bài tập tiếng Việt trang 19 sách bài tập văn 11 - Cánh diều thuộc chương trình môn Ngữ văn Lớp 11 của bộ sách . Để hoàn thành tốt bài học này, học sinh cần nắm vững các lý thuyết trọng tâm đã được thầy cô giảng dạy trên lớp, từ đó vận dụng linh hoạt vào việc phân tích và giải quyết các câu hỏi, bài tập thực hành. Bài viết dưới đây được biên soạn bởi đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, trình bày tuần tự và rõ ràng lời giải cho từng mục trong SGK (bao gồm cả các câu hỏi thảo luận Khởi động/Khám phá lẫn bài tập tự luận cuối bài). Hãy đọc kỹ từng bước hướng dẫn (step-by-step) để hiểu rõ bản chất vấn đề thay vì chỉ sao chép kết quả cuối cùng nhé.
Xác định từ ngữ đối và kiểu đối trong các ngữ liệu sau Tìm biện pháp đối trong đoạn thơ dưới đây (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du). Biện pháp đối trong đoạn trích giúp người đọc hình dung về hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều như thế nào?
Câu 1
Câu 1 (trang 19, sách bài tập Ngữ Văn 11, tập một):
Xác định từ ngữ đối và kiểu đối trong các ngữ liệu sau:
a. Tôi không muốn là bướm. Tôi chỉ muốn là tằm
(Lưu Quý Kì)
b. Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời
(Nguyễn Du)
c. Đứng một ngày đất lạ hóa thành quen
Đứng một đời em đất quen thành lạ
(Vũ Quần Phương)
Phương pháp giải:
Dựa vào những kiến thức được học về đặc điểm, dấu hiệu nhận biết của từ ngữ đối và kiểu đối để hoàn thiện bài tập
Lời giải chi tiết:
a. Từ ngữ đối: bướm – tằm. Kiểu đối: tiểu đối (cùng hàng).
b. Từ ngữ đối: trong – đục. Kiểu đối: trường đối (khác hàng).
c. Từ ngữ đối: quen – lạ. Kiểu đối: tiểu đối (cùng hàng).
Quảng cáo
Dành riêng cho học sinh 2k8 (năm sinh 2008) có nhu cầu ôn luyện để đạt kết quả tốt!
Kế hoạch ôn luyện đến năm 2026:
Luyện thi 3 trong 1: Thi THPT Quốc gia - Đánh giá năng lực - Đánh giá tư duy. Đây là giải pháp thay thế cho việc học thêm, tập trung luyện thi các dạng đề TN THPT, ĐGNL (dành cho học sinh Hà Nội, ĐH Quốc gia TP.HCM và Sư phạm).
Mục tiêu:
Đạt điểm cao trong kỳ thi TN THPT, ĐGNL Hà Nội, ĐGNL TP.HCM và ĐGTD (Đánh giá tư duy).
Luyện thi theo lộ trình từng tháng, giúp học sinh nắm vững kiến thức và kỹ năng.
Tìm hiểu thêm thông tin chi tiết.
Câu 2
Câu 2 (trang 19, sách bài tập Ngữ Văn 11, tập một):
Tìm biện pháp đối trong đoạn thơ dưới đây (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du). Biện pháp đối trong đoạn trích giúp người đọc hình dung về hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều như thế nào?
Phương pháp giải:
Dựa vào những dấu hiệu nhận biết, đặc điểm nổi bật của biện pháp nối để hoàn thành yêu cầu đề bài đưa ra.
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn thơ, Nguyễn Du đã sử dụng nhiều lần biện pháp tu từ đối để khắc hoạ, miêu tả hay nhất về chân dung hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều. Các dạng đối có trong khổ thơ này là:
– Tiểu đối (đối trên một dòng thơ):
+ chị – em (“Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân”);
+ mỗi người – mười phân, một vẻ – vẹn mười (‘Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”);
+ đầy đặn – nở nang (“Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”);
+ cười – thốt (“Hoa cười ngọc thốt đoan trang”);
+ thua – nhường (“Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da);
+ ghen – hờn (“Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”).
– Trường đối (đối trên những dòng thơ khác nhau):
trang trọng khác vời – sắc sảo, mặn mà (“Vân xem trang trọng khác vời”, “Kiều càng sắc sảo mặn mà”).
Bằng biện pháp đối, Nguyễn Du đã vẽ nên bức chân dung về hai chị em Thuy Vân, Thuý Kiều “đẹp nghiêng nước nghiêng thành”, một chín một mười, một người một vẻ cả về ngoại hình lẫn tính cách, trong đó, Thuý Kiều luôn được miêu tả “So bề tài sắc lại là phần hơn” so với Thuý Vân.
Câu 3
Câu 3 (trang 20, sách bài tập Ngữ Văn 11, tập một):
Biện pháp đối được vận dụng trong các đoạn văn sau như thế nào? Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đó.
Phương pháp giải:
Cần tìm và phân tích được biện pháp đối được vận dụng trong các đoạn văn đã dẫn. Đồng thời chỉ ra sự khác biệt của phép đối được sử dụng trong thơ và văn xuôi có gì khác biệt và tương đồng hay không. Từ đó, hoàn thành bài tập này theo hai bước: tìm phép đối và phân tích tác dụng của phép đối trong các ngữ liệu.
Lời giải chi tiết:
a.
– Biện pháp đối được dùng trong đoạn trích: nồng nàn yêu nước – làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn đối lập với: mọi sự hiểm nguy, khó khăn; lũ bán nước – lũ cướp nước.
→ Tác dụng tu từ của biện pháp đối: Bằng sự đối xứng tương đồng hoặc tương phản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khắc hoạ được truyền thống yêu nước nồng nàn của dân tộc ta, trải qua mọi biến động của lịch sử, lòng yêu nước ấy vẫn mãi mãi trường tồn.
b.
– Biện pháp đối được dùng trong đoạn trích: tác giả đã sử dụng các cặp từ ngữ đối xứng nhau rất dễ nhận thấy thông qua cấu trúc đối nghịch “X mà Y” trong tiếng Việt: từng trải mà nhẹ nhàng, kiên định mà duyên dáng, hào hoa mà thanh thoát, sang trọng mà không xa hoa, cởi mở mà không lố bịch, nhố nhăng.
→Tác dụng tu từ của biện pháp đối: Bằng cách tạo ra những sự đối lập cân xứng, hài hoà, uyển chuyển, tác giả đã vẽ nên một Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội với hàng ngàn năm lịch sử luôn có nếp sống phong lưu về vật chất, phong phú về tinh thần.
c.
– Biện pháp đối được dùng trong đoạn trích: Tác giả đã sử dụng các cặp từ ngữ đối lập nhau: sông kết vào với biển – sông tan biến vào trong biển; gắn kết với thế giới – tan biến vào thế giới.
→ Tác dụng tu từ của biện pháp đối: Bằng cách tạo ra những sự đối lập, tác giả đã nhấn mạnh được vai trò của việc gắn kết chứ không tan biến với toàn cầu hoá khi hội nhập.
Câu 4
Câu 4 (trang 20, sách bài tập Ngữ Văn 11, tập một):
Viết một đoạn văn (khoảng 6 – 8 dòng) để phân tích cái hay của biện pháp đối trong câu đối Tết sau đây:
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh
Phương pháp giải:
Cần phải viết đoạn văn để giới thiệu và phân tích cái hay của một câu đối Tết quen thuộc sao cho dung lượng khoảng 6-8 dòng; phải phân tích được cái hay của một câu đối Tết như từ ngữ đối đã chỉnh chưa, bằng trắc, vần điệu đã hài hòa chưa, chủ đề đã phù hợp và có tính văn hóa chưa
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn tham khảo:
Câu đối Tết "Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ, Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh" tạo ra sự hài hòa và cân đối thông qua việc sắp xếp các nguyên tố tượng trưng cho ngày Tết một cách khéo léo. Biện pháp đối trong câu đối này đặt trước mắt người đọc hình ảnh ngay từ những món ăn truyền thống của ngày Tết. Thịt mỡ dưa hành và bánh chưng xanh là những biểu tượng tượng trưng cho sự phong phú, sung túc và đầy đủ trong cuộc sống. Cây nêu và tràng pháo thể hiện tinh thần phấn khích, vui vẻ của ngày Tết. Sự đan xen giữa các hình ảnh đỏ và xanh, tượng trưng cho sự may mắn và tươi vui, tạo nên một hình ảnh sống động, màu sắc. Biện pháp đối trong câu đối này không chỉ mang tính thẩm mỹ mà còn thể hiện sự tinh tế và khéo léo trong việc kết hợp những yếu tố văn hóa truyền thống của ngày Tết. Từng từ được sắp xếp một cách có chọn lọc để đem lại một hình ảnh chung toàn diện về ngày Tết, gợi lên sự phấn khích và ấm cúng của gia đình trong dịp này.
Gợi Ý Phương Pháp Tiếp Cận Cho Bài Học Giải bài tập tiếng Việt trang 19 sách bài tập văn 11 - Cánh diều
Với định hướng phát triển năng lực của bộ sách , các bài tập trong phần Giải bài tập tiếng Việt trang 19 sách bài tập văn 11 - Cánh diều thường không đơn thuần chỉ là việc áp dụng một công thức cứng nhắc. Môn Ngữ văn Lớp 11 yêu cầu sự tư duy liên kết rất cao. Đối với các câu hỏi lý thuyết, học sinh cần rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản, trích xuất từ khóa (keyword) quan trọng để trả lời đúng trọng tâm, tránh lan man. Đối với dạng bài tập tính toán hay suy luận logic, điều quan trọng nhất là phải tóm tắt được đề bài (đề bài cho dữ kiện gì, yêu cầu tìm đại lượng nào), sau đó phác thảo sơ đồ tư duy giải quyết vấn đề trước khi bắt tay vào giải chi tiết. Lời giải được cung cấp trong bài viết này đã tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc đó: luôn giải thích lý do tại sao lại sử dụng công thức/phương pháp này để các bạn dễ dàng theo kịp mạch tư duy.
Lưu Ý Quan Trọng Về Cách Trình Bày Bài Tập Môn Ngữ văn
Một bài giải hoàn hảo không chỉ cần đáp số chính xác mà còn phụ thuộc rất lớn vào cách trình bày. Đối với học sinh Lớp 11, việc rèn luyện kỹ năng trình bày khoa học, sạch đẹp là vô cùng cần thiết để ghi trọn vẹn điểm số trong các kỳ thi tự luận. Khi tham khảo lời giải Giải bài tập tiếng Việt trang 19 sách bài tập văn 11 - Cánh diều trên website, các bạn hãy chú ý đến cấu trúc của một bài làm chuẩn mực. Nếu là một bài Toán/Lý/Hóa, hãy luôn nhớ ghi công thức tổng quát trước khi thay số, nhớ ghi đơn vị ở đáp số cuối cùng và có câu kết luận (Vậy...). Nếu là bài Văn/Sử/Địa, hãy trình bày thành các đoạn văn rõ ràng, có luận điểm, luận cứ rành mạch. Đừng bao giờ viết tắt những thuật ngữ chuyên ngành không được phép. Việc tuân thủ sự chỉn chu ngay từ khi làm bài tập về nhà sẽ giúp bạn tạo được thiện cảm rất lớn đối với giáo viên chấm bài.
Lời Khuyên Về Khả Năng Tự Nghiên Cứu Và Tham Khảo Khách Quan
Chúng tôi tạo ra chuyên trang lời giải sách môn Ngữ văn với mong muốn mang đến một "gia sư ảo" (virtual tutor) miễn phí, giúp các bạn học sinh tháo gỡ những khúc mắc ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kiến thức luôn mang tính đa chiều, đặc biệt đối với các câu hỏi mở, câu hỏi vận dụng sáng tạo (VDC) trong SGK. Đáp án mà chúng tôi đưa ra trong bài Giải bài tập tiếng Việt trang 19 sách bài tập văn 11 - Cánh diều được xem là phương án tham khảo chuẩn mực và logic nhất, nhưng không phải là duy nhất. Chúng tôi luôn khuyến khích các bạn phát huy tư duy phản biện (Critical Thinking). Nếu bạn tìm ra một cách giải khác ngắn gọn hơn, thông minh hơn, hoặc có một góc nhìn lập luận sắc bén hơn so với bài giải mẫu, hãy mạnh dạn chia sẻ nó trong phần Bình luận (Comment) ở phía dưới trang. Điều đó chứng tỏ bạn đã thực sự thấu hiểu và làm chủ được môn học này.
Góc Thảo Luận Và Hỗ Trợ Chuyên Môn Trực Tuyến
Quá trình tự học môn Ngữ văn lớp 11 đôi khi sẽ khiến bạn cảm thấy đơn độc và bế tắc khi đối mặt với một vấn đề quá hóc búa. Đừng lo lắng! Chuyên mục hướng dẫn giải bài Giải bài tập tiếng Việt trang 19 sách bài tập văn 11 - Cánh diều của chúng tôi được thiết kế đi kèm với hệ thống hỏi đáp tương tác trực tiếp. Nếu trong quá trình đối chiếu bài giải mà bạn phát hiện ra một dấu phép tính bị sai sót do lỗi đánh máy, hoặc có một bước biến đổi công thức nào đó quá tắt khiến bạn không hiểu được, xin vui lòng để lại ý kiến ngay lập tức. Đội ngũ giáo viên và các kiểm duyệt viên học thuật của website sẽ thường xuyên theo dõi các câu hỏi của học sinh để giải đáp, giải thích lại cặn kẽ (reply) trong thời gian sớm nhất, đảm bảo luồng kiến thức bạn tiếp nhận luôn được thông suốt và chính xác tuyệt đối.