Đề thi học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 3
Tổng quan nội dung
Lời Giải Chi Tiết: Đề thi học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 3
Bạn đang theo dõi bài viết hướng dẫn chi tiết Đề thi học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 3 thuộc chương trình môn Ngữ văn Lớp 4 của bộ sách . Để hoàn thành tốt bài học này, học sinh cần nắm vững các lý thuyết trọng tâm đã được thầy cô giảng dạy trên lớp, từ đó vận dụng linh hoạt vào việc phân tích và giải quyết các câu hỏi, bài tập thực hành. Bài viết dưới đây được biên soạn bởi đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, trình bày tuần tự và rõ ràng lời giải cho từng mục trong SGK (bao gồm cả các câu hỏi thảo luận Khởi động/Khám phá lẫn bài tập tự luận cuối bài). Hãy đọc kỹ từng bước hướng dẫn (step-by-step) để hiểu rõ bản chất vấn đề thay vì chỉ sao chép kết quả cuối cùng nhé.
Bố tôi xin được con chó nhỏ về nuôi. Con chó khá xinh, lông vàng, cổ khoang trắng. Nhưng tôi chẳng bận tâm đến nó vì còn mải mê bắt châu chấu, nuôi sáo, đá bóng, chọi gà… Câu chuyện tập trung kể về những nhân vật nào? Vì sao người anh không bận tâm đến con chó nhỏ? Chi tiết nào cho thấy Liên coi Vàng như người thân trong nhà? Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống để được ý đúng: Dòng nào dưới đây nêu đúng 5 từ ngữ tả sự đau đớn của con Vàng?
Đề bài
A. ĐỌC HIỂU
Con Vàng
Bố tôi xin được con chó nhỏ về nuôi. Con chó khá xinh, lông vàng, cổ khoang trắng. Nhưng tôi chẳng bận tâm đến nó vì còn mải mê bắt châu chấu, nuôi sáo, đá bóng, chọi gà…
Cái Liên em tôi thì khác. Nó đặt tên cho con chó là Vàng và chăm sóc, chiều chuộng hết mực. Đi học về, vừa thấy Vàng vẫy đuôi chạy ra, Liên vồn vã :
- Ôi, em Vàng của chị ! Ở nhà có ai bắt nạt em không ?
Rồi Liên bế thốc Vàng lên để vuốt ve, vào bếp kiếm ngay cơm cho Vàng ăn.
Một hôm, thấy con Vàng đang rượt đuổi chú sáo mỏ vàng cực đẹp của tôi, thuận chân, tôi đá Vàng một cú mạnh như sút bóng. Con chó bay ra sân, rơi huỵch xuống đất, kêu oăng oẳng một lúc rồi nằm rên ư ử.
Liên đi học về, thấy con Vàng cá nhắc, bèn làm toáng lên. Nhưng tôi chối bay chối biến. Liên đành kiếm dầu xoa bóp cho Vàng. Hôm sau, Liên nấu cả cháo thịt mà Vàng cũng chỉ liếm được lưng thìa rồi nằm thở dốc, thỉng thoảng lại co giật, nước mắt tràn ra.
Chiều ngày thứ ba, tôi vừa về đến nhà thấy Liên ngồi bệt trước cửa khóc thút thít. Sau lưng nó, con Vàng nằm bất động trên tờ báo.
Tôi lấm lét nhìn Liên rồi lẳng lặng vào buồng, ngồi lặng lẽ. Nước mắt cứ ứa ra, tôi chẳng buồn nghĩ đến con sáo nữa…
Theo Nguyễn Bá
* Dựa vào nội dung bài đọc, hãy khoanh tròn vào chữ cái đặt trước ý trả lời đúng nhất và hoàn thành tiếp các bài tập:
Câu 1.Câu chuyện tập trung kể về những nhân vật nào?
A. Người bố, hai anh em (“tôi” và Liên).
B. Hai anh em (“tôi” và Liên), con Vàng.
C. Hai anh em (“tôi” và Liên), con sáo.
D. Người bố, con Vàng, con sáo mỏ.
Câu 2.Vì sao người anh không bận tâm đến con chó nhỏ?
A. Vì mải mê bắt châu chấu, đá bóng, đi học.
B. Vì bận học và tham gia hoạt động ở trường.
C. Vì bận chăm sóc con sáo mỏ vàng cực đẹp.
D. Vì mải mê với những thú vui của riêng mình.
Câu 3.Chi tiết nào cho thấy Liên coi Vàng như người thân trong nhà?
A. Đặt tên con chó là Vàng.
C. Bế thốc Vàng lên để vuốt ve.
B. Gọi Vàng là “em của chị”.
D. Vào bếp kiếm cơm cho Vàng ăn
Câu 4.Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống để được ý đúng:
Người anh đá Vàng một cú mạnh như...................................khiến Vàng đau đớn nằm rên ư ử.
A. đánh nhau
B. trời giáng
C. sút bóng
D. đánh tạ
Câu 5.Dòng nào dưới đây nêu đúng 5 từ ngữ tả sự đau đớn của con Vàng?
A. rơi xuống đất, kêu oăng oẳng, rên ư ử, thở dốc, co giật
B. kêu oăng oẳng, rên ư ử, lừ đừ, đi cà nhắc, nằm bất động.
C. kêu oăng oẳng, rên ư ử, thở dốc, co giật, nước mắt tràn ra.
D. rên ư ử, thở dốc, co giật, nước mắt tràn ra, nằm bất động.
Câu 6.Trong câu sau có mấy tính từ “Tôi lấm lét nhìn cái Liên rồi lẳng lặng vào buồng, ngồi lặng lẽ.”?
A. Một tính từ. Đó là :…………………
B. Hai tính từ. Đó là :…………………
C. Ba tính từ. Đó là :……………………
D. Bốn tính từ. Đó là :…………………
Câu 7.Chi tiết “Nước mắt cứ ứa ra, tôi chẳng buồn nghĩ đến con sáo nữa …” cho thấy điều gì ở người anh?
Câu 8.Câu kể : “ Sau lưng nó, con Vàng nằm bất động trên tờ báo” thuộc mẫu câu nào em đã học?
Thuộc mẫu câu: . .................................
Câu 9.Xác định vị ngữ trong câu “Tôi lấm lét nhìn cái Liên rồi lẳng lặng vào buồng, ngồi lặng lẽ.”?
Vị ngữ: .........................................
B. KIỂM TRA VIẾT
1. Viết chính tả:
2. Viết văn:
Đề bài: Hãy tả lại một con vật nuôi mà em thích.
Lời giải
A. ĐỌC HIỂU
Câu 1.Câu chuyện tập trung kể về những nhân vật nào?
A. Người bố, hai anh em (“tôi” và Liên).
B. Hai anh em (“tôi” và Liên), con Vàng.
C. Hai anh em (“tôi” và Liên), con sáo.
D. Người bố, con Vàng, con sáo mỏ.
Phương pháp
Em dựa vào nội dung của bài đọc.
Lời giải
Câu chuyện tập trung kể về những nhân vật: Hai anh em (“tôi” và Liên), con Vàng
Đáp án: B
Câu 2.Vì sao người anh không bận tâm đến con chó nhỏ?
A. Vì mải mê bắt châu chấu, đá bóng, đi học.
B. Vì bận học và tham gia hoạt động ở trường.
C. Vì bận chăm sóc con sáo mỏ vàng cực đẹp.
D. Vì mải mê với những thú vui của riêng mình.
Phương pháp
Em dựa vào nội dung của bài đọc.
Lời giải
Người anh không bận tâm đến con chó vì bận chăm sóc con sáo mỏ vàng cực đẹp.
Đáp án: C
Câu 3.Chi tiết nào cho thấy Liên coi Vàng như người thân trong nhà?
A. Đặt tên con chó là Vàng.
C. Bế thốc Vàng lên để vuốt ve.
B. Gọi Vàng là “em của chị”.
D. Vào bếp kiếm cơm cho Vàng ăn
Phương pháp
Em dựa vào nội dung của bài đọc.
Lời giải
Chi tiết cho thấy Liên coi Vàng như người thân trong nhà: Gọi Vàng là “em của chị”
Đáp án: B
Câu 4.Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống để được ý đúng:
Người anh đá Vàng một cú mạnh như...................................khiến Vàng đau đớn nằm rên ư ử.
A. đánh nhau
B. trời giáng
C. sút bóng
D. đánh tạ
Phương pháp
Em dựa vào nội dung của bài đọc.
Lời giải
Người anh đá Vàng một cú mạnh như sút bóng khiến Vàng đau đớn nằm rên ư ử.
Đáp án: C
Câu 5.Dòng nào dưới đây nêu đúng 5 từ ngữ tả sự đau đớn của con Vàng?
A. rơi xuống đất, kêu oăng oẳng, rên ư ử, thở dốc, co giật
B. kêu oăng oẳng, rên ư ử, lừ đừ, đi cà nhắc, nằm bất động.
C. kêu oăng oẳng, rên ư ử, thở dốc, co giật, nước mắt tràn ra.
D. rên ư ử, thở dốc, co giật, nước mắt tràn ra, nằm bất động.
Phương pháp
Em dựa vào nội dung của bài đọc.
Lời giải
Dòng nêu đúng 5 từ ngữ tả sự đau đớn của con Vàng là: kêu oăng oẳng, rên ư ử, thở dốc, co giật, nước mắt tràn ra.
Đáp án:
Câu 6.Trong câu sau có mấy tính từ “Tôi lấm lét nhìn cái Liên rồi lẳng lặng vào buồng, ngồi lặng lẽ.”?
A. Một tính từ. Đó là :…………………
B. Hai tính từ. Đó là :…………………
C. Ba tính từ. Đó là :……………………
D. Bốn tính từ. Đó là :…………………
Phương pháp
Tính từ là từ chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật.
Lời giải
Câu đã cho có 3 tính từ, đó là: lấm lét, lẳng lặng, lặng lẽ
Đáp án:
Câu 7.Chi tiết “Nước mắt cứ ứa ra, tôi chẳng buồn nghĩ đến con sáo nữa …” cho thấy điều gì ở người anh?
Phương pháp
Em dựa vào nội dung của bài đọc.
Lời giải
Chi tiết “Nước mắt ứa ra, tôi chẳng buồn nghĩ đến con sáo nữa...” cho thấy: Người anh thương con Vàng, ân hận vì đã làm cho Vàng chết.
Câu 8.Câu kể : “ Sau lưng nó, con Vàng nằm bất động trên tờ báo” thuộc mẫu câu nào em đã học?
Thuộc mẫu câu: . .................................
Phương pháp
Em nhớ lại các kiểu câu kể đã học.
Lời giải
Câu đã cho thuộc câu kể Ai làm gì?
Câu 9.Xác định vị ngữ trong câu “Tôi lấm lét nhìn cái Liên rồi lẳng lặng vào buồng, ngồi lặng lẽ.”?
Vị ngữ: ......................
Phương pháp
Em phân tích các thành phần trong câu.
Lời giải
- Chủ ngữ: Tôi
- Vị ngữ: lấm lét nhìn cái Liên rồi lẳng lặng vào buồng, ngồi lặng lẽ
B. KIỂM TRA VIẾT
1. Chính tả
2. Tập làm văn
Phương pháp
Căn cứ kĩ năng viết bài văn miêu tả đặc điểm con vật.
Lời giải
Dàn bài tham khảo (tả con mèo)
A. Mở bài:
Giới thiệu con vật định tả là con gì, một con hay cả bầy (Con vật đang ở đâu? Em thấy con vật này vào lúc nào?)
B. Thân bài:
a. Tả đặc điểm hình dáng bên ngoài của con vật (6-8 dòng) (mỗi đặc điểm 2-3 câu)
- Tả bao quát: vóc dáng, bộ lông hoặc màu da.
- Tả từng bộ phận: đầu (tai, mắt...), thân hình, chân, đuôi.
b. Tả thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật: (6-8 dòng) (mỗi hoạt động 2-3 câu)
- Tả một vài biểu hiện về tính nết, thói quen của con vật.
- Tả một số hoạt động chính của con vật: bắt mồi, ăn, kêu (gáy, sủa...)...
- Chú ý kết hợp tả một vài nét về cảnh hoặc người liên quan đến môi trường sống của con vật.
c. Sự săn sóc hoặc quan tâm của em với con vật nuôi
C. Kết luận:
- Nêu ích lợi của con vật và tình cảm của người tả đối với con vật. (kết bài mở rộng hoặc không mở rộng) (3-4 dòng)
- Tình cảm, suy nghĩ của em về con vật
Bài làm tham khảo
Nhân ngày sinh nhật lần thứ 9 của em, mẹ em tặng cho em một chú mèo bằng bông rất đẹp. Em quý món quà này lắm và thầm ao ước giá như mình có một con mèo thật, cũng xinh xắn và duyên dáng như thế. Một hôm, ba em đi công tác về, mang theo một con mèo xinh ơi là xinh ! Em thích lắm và đặt tên cho chú là Mimi.
Mi Mi nhà em thật đáng yêu. Chú có bộ lông màu khoang trắng. Cái đầu tròn, nhỏ xinh và mềm như cục bông. Hai tai thì nhỏ xíu, luôn dựng thắng đứng rất thính và nhạy. Đôi mắt Mi Mi sáng long lanh như hòn bi. Đêm đến đôi mắt bỗng trở nên vô cùng nhanh nhạy, linh hoạt. Bộ ria thì luôn vểnh lên, có vẻ oai vệ lắm. Bốn chân chú ta thon, nhỏ, mềm mại, phía dưới còn có nệm thịt màu hồng. Nhờ đó mà mỗi bước đi đều vô cùng nhẹ nhàng như lướt trên mặt đất. Cái đuôi dài thỉnh thoảng thích thú điều gì lại vung vẩy non vô cùng đáng yêu.
Khi đêm xuống, chú như một trinh sát lành nghề nhanh nhẹn và hoạt bát vô cùng. Chú thường đi vòng quanh nhà rồi dừng lại ở những chỗ mà chú nghi là lũ chuột thường hay lui tới như thùng gạo, tủ thức ăn,… chú nấp vào chỗ kín, im lặng đợi chờ. Chỉ cần một tên chuột nào đó xuất hiện thì mèo ta bằng một cú nhảy điêu luyện, bung người lên vồ chính xác con mồi, rất ít khi vồ hụt. Những cái vuốt sắc nhọn chặn lấy cổ họng đối phương, cái miệng quặp lấy cái đầu, quật lia lịa xuống nền nhà.
Em rất yêu Mi Mi nhà em. Bởi vì Mi Mi là một người bạn thân thiết của em. Hằng ngày em đều cho Mi Mi ăn ba bữa đầy đủ. Dọn dẹp thau cát vệ sinh và chỗ ở của Mi Mi. Mùa lạnh về em cùng với chị làm áo ấm cho Mi Mi mặc. Tuy là động vật, chẳng biết nói năng nhưng Mi Mi có lẽ cũng hiểu sự quan tâm, chăm sóc mà em dành cho Mi Mi. Chỉ cần em có ở nhà là Mi Mi sẽ quấn lấy em, dụi dụi cái đầu nhỏ đáng yêu vào người em để nũng nịu. Em yêu Mi Mi, mong Mi Mi luôn mạnh khỏe để làm bạn với em lâu thật lâu.
Từ ngày có Mimi trong nhà, lũ chuột dường như biến mất. Con mèo như một vị chúa tể bước đi đầy quyền uy trong lãnh địa của mình. Cả nhà em ai cũng yêu chú. Mẹ em còn gọi đùa chú là “Con hổ nhỏ”. Dường như chú cũng biết mọi người yêu quý mình nên chú dụi đầu hết vào chân người này lại sang chân người khác. Trông chú đáng yêu và đáng quý.
Gợi Ý Phương Pháp Tiếp Cận Cho Bài Học Đề thi học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 3
Với định hướng phát triển năng lực của bộ sách , các bài tập trong phần Đề thi học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 3 thường không đơn thuần chỉ là việc áp dụng một công thức cứng nhắc. Môn Ngữ văn Lớp 4 yêu cầu sự tư duy liên kết rất cao. Đối với các câu hỏi lý thuyết, học sinh cần rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản, trích xuất từ khóa (keyword) quan trọng để trả lời đúng trọng tâm, tránh lan man. Đối với dạng bài tập tính toán hay suy luận logic, điều quan trọng nhất là phải tóm tắt được đề bài (đề bài cho dữ kiện gì, yêu cầu tìm đại lượng nào), sau đó phác thảo sơ đồ tư duy giải quyết vấn đề trước khi bắt tay vào giải chi tiết. Lời giải được cung cấp trong bài viết này đã tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc đó: luôn giải thích lý do tại sao lại sử dụng công thức/phương pháp này để các bạn dễ dàng theo kịp mạch tư duy.
Lưu Ý Quan Trọng Về Cách Trình Bày Bài Tập Môn Ngữ văn
Một bài giải hoàn hảo không chỉ cần đáp số chính xác mà còn phụ thuộc rất lớn vào cách trình bày. Đối với học sinh Lớp 4, việc rèn luyện kỹ năng trình bày khoa học, sạch đẹp là vô cùng cần thiết để ghi trọn vẹn điểm số trong các kỳ thi tự luận. Khi tham khảo lời giải Đề thi học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 3 trên website, các bạn hãy chú ý đến cấu trúc của một bài làm chuẩn mực. Nếu là một bài Toán/Lý/Hóa, hãy luôn nhớ ghi công thức tổng quát trước khi thay số, nhớ ghi đơn vị ở đáp số cuối cùng và có câu kết luận (Vậy...). Nếu là bài Văn/Sử/Địa, hãy trình bày thành các đoạn văn rõ ràng, có luận điểm, luận cứ rành mạch. Đừng bao giờ viết tắt những thuật ngữ chuyên ngành không được phép. Việc tuân thủ sự chỉn chu ngay từ khi làm bài tập về nhà sẽ giúp bạn tạo được thiện cảm rất lớn đối với giáo viên chấm bài.
Lời Khuyên Về Khả Năng Tự Nghiên Cứu Và Tham Khảo Khách Quan
Chúng tôi tạo ra chuyên trang lời giải sách môn Ngữ văn với mong muốn mang đến một "gia sư ảo" (virtual tutor) miễn phí, giúp các bạn học sinh tháo gỡ những khúc mắc ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kiến thức luôn mang tính đa chiều, đặc biệt đối với các câu hỏi mở, câu hỏi vận dụng sáng tạo (VDC) trong SGK. Đáp án mà chúng tôi đưa ra trong bài Đề thi học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 3 được xem là phương án tham khảo chuẩn mực và logic nhất, nhưng không phải là duy nhất. Chúng tôi luôn khuyến khích các bạn phát huy tư duy phản biện (Critical Thinking). Nếu bạn tìm ra một cách giải khác ngắn gọn hơn, thông minh hơn, hoặc có một góc nhìn lập luận sắc bén hơn so với bài giải mẫu, hãy mạnh dạn chia sẻ nó trong phần Bình luận (Comment) ở phía dưới trang. Điều đó chứng tỏ bạn đã thực sự thấu hiểu và làm chủ được môn học này.
Góc Thảo Luận Và Hỗ Trợ Chuyên Môn Trực Tuyến
Quá trình tự học môn Ngữ văn lớp 4 đôi khi sẽ khiến bạn cảm thấy đơn độc và bế tắc khi đối mặt với một vấn đề quá hóc búa. Đừng lo lắng! Chuyên mục hướng dẫn giải bài Đề thi học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 3 của chúng tôi được thiết kế đi kèm với hệ thống hỏi đáp tương tác trực tiếp. Nếu trong quá trình đối chiếu bài giải mà bạn phát hiện ra một dấu phép tính bị sai sót do lỗi đánh máy, hoặc có một bước biến đổi công thức nào đó quá tắt khiến bạn không hiểu được, xin vui lòng để lại ý kiến ngay lập tức. Đội ngũ giáo viên và các kiểm duyệt viên học thuật của website sẽ thường xuyên theo dõi các câu hỏi của học sinh để giải đáp, giải thích lại cặn kẽ (reply) trong thời gian sớm nhất, đảm bảo luồng kiến thức bạn tiếp nhận luôn được thông suốt và chính xác tuyệt đối.