Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2
Tổng quan nội dung
Lời Giải Chi Tiết: Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2
Bạn đang theo dõi bài viết hướng dẫn chi tiết Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2 thuộc chương trình môn Ngữ văn Lớp 4 của bộ sách . Để hoàn thành tốt bài học này, học sinh cần nắm vững các lý thuyết trọng tâm đã được thầy cô giảng dạy trên lớp, từ đó vận dụng linh hoạt vào việc phân tích và giải quyết các câu hỏi, bài tập thực hành. Bài viết dưới đây được biên soạn bởi đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, trình bày tuần tự và rõ ràng lời giải cho từng mục trong SGK (bao gồm cả các câu hỏi thảo luận Khởi động/Khám phá lẫn bài tập tự luận cuối bài). Hãy đọc kỹ từng bước hướng dẫn (step-by-step) để hiểu rõ bản chất vấn đề thay vì chỉ sao chép kết quả cuối cùng nhé.
Kinh nghiệm huấn luyện ngựa Một người Ả-rập rất giỏi huấn luyện ngựa thành những con thiên lí mã, nên được tôn xưng là “mã thần”.
Đề bài
A. Kiểm tra đọc
I. Đọc thành tiếng
GV cho học sinh đọc một đoạn trong các bài tập đọc và trả lời một số câu hỏi về nội dung đoạn vừa đọc theo quy định.
II. Đọc thầm văn bản sau:
Kinh nghiệm huấn luyện ngựa
Một người Ả-rập rất giỏi huấn luyện ngựa thành những con thiên lí mã, nên được tôn xưng là “mã thần”.
Mỗi buổi sáng, ông cho đàn ngựa chạy theo vòng tròn, trong đàn có cả những con ngựa to khoẻ và những con ngựa còn rất nhỏ. Trong khi đó, trợ thủ của ông vừa chỉ huy đàn ngựa vừa bám lấy yên ngựa, nhảy sang trái rồi nhảy sang phải như biểu diễn xiếc.
Đến trưa, lúc mặt trời gay gắt nhất, hai thầy trò "mã thần" cho đàn ngựa phi thẳng về phía sa mạc. Đến chiều, họ trở về với hai con dao cong trong tay, hệt như đi đánh trận.
Có người hỏi:
- Tại sao ông lại cho cả đàn ngựa chạy vòng quanh vậy?
- Bởi vì tôi muốn dạy những con ngựa con biết đi sau những con ngựa lớn, học nghe khẩu lệnh và phục tùng. Không có ngựa lớn dẫn dắt thì rất khó dạy ngựa con. Nếu tôi là người thầy, thì ngựa lớn chính là phụ huynh. Tôi giáo dục ở trường, cha mẹ dẫn dắt ở nhà, bất kể mặt nào cũng không thể thiếu.
- Vậy trợ thủ của ông bám vào yên ngựa, nhảy qua nhảy lại để làm gì?
- Để dạy cho ngựa biết cách giữ thăng bằng.
Thấy người đó háo hức nghe, ông nói tiếp:
- Còn cưỡi ngựa lúc giữa trưa vào sa mạc nóng như thiêu như đốt là cách để dạy ngựa phi nhanh, chúng phải biết rằng nếu không chạy thật nhanh thi sẽ không thoát khỏi sa mạc. Con dao cong được dùng để kích thích mắt ngựa, đồng thời âm thanh loảng xoảng của các vòng kim loại gắn trên thân dạo cũng thử thách sự bình tĩnh của ngựa. Sau quá trình huấn luyện khắc nghiệt này, chúng tôi sẽ nhận ra con nào có khả năng trở thành thiên lí mã.
(Theo Điều bình dị thông thái)
Thiên lí mã: ngựa đi ngàn dặm đường (thiên: một nghìn, lí: dặm đường, mã: ngựa), ý chỉ ngựa khoẻ và chạy rất nhanh.
Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu:
Câu 1. Một con ngựa tốt được gọi là gì?
A. Mã thần
B. Thiên lí mã
C. Bạch mã
D. Chiến mã
Câu 2. Vì sao người Ả Rập trong bài được gọi là “mã thần”?
A. Vì ông huấn luyện ngựa giỏi như thần.
B. Vì ông chỉ huấn luyện ngựa thần.
C. Vì ông luyện ngựa bằng phép thần.
D. Vì ngựa của ông làm xiếc như thần.
Câu 3. Người huấn luyện ngựa nhảy qua nhảy lại hai bên yên ngựa để làm gì?
A. Để ngựa biết biểu diễn xiếc.
B. Để ngựa giữ thăng bằng.
C. Để ngựa biết phục tùng.
D. Để ngựa biết nghe hiệu lệnh.
Câu 4. Mã thần cưỡi ngựa vào sa mạc lúc giữa trưa để làm gì?
A. Để luyện cho ngựa phi nhanh.
B. Để luyện cho ngựa chịu nắng nóng.
C. Để luyện cho ngựa chịu được cát bỏng.
D. Để luyện cho ngựa chịu được cơn khát.
Câu 5. Em có nhận xét gì về kinh nghiệm huấn luyện ngựa của “mã thần”?
Câu 6. Gạch chân dưới các động từ trong đoạn văn sau:
Mỗi buổi sáng, ông cho đàn ngựa chạy theo vòng tròn, trong đàn có cả những con ngựa to khoẻ và những con ngựa còn rất nhỏ. Trong khi đó, trợ thủ của ông vừa chỉ huy đàn ngựa vừa bám lấy yên ngựa, nhảy sang trái rồi nhảy sang phải như biểu diễn xiếc.
Câu 7. Đặt 2 câu nói về đặc điểm của một loài vật mà em yêu thích.
B. Kiểm tra viết
Đề bài: Em hãy viết bài văn kể lại một câu chuyện cổ tích mà em yêu thích.
Lời giải
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAHAY.COM
1. B | 2. A | 3. B | 4. A |
A. Kiểm tra đọc
I. Đọc thành tiếng
II. Đọc thầm văn bản sau:
Câu 1. Một con ngựa tốt được gọi là gì?
A. Mã thần
B. Thiên lí mã
C. Bạch mã
D. Chiến mã
Phương pháp giải:
Căn cứ nội dung bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.
Lời giải chi tiết:
Một con ngựa tốt được gọi là Thiên lí mã.
Đáp án B.
Câu 2. Vì sao người Ả Rập trong bài được gọi là “mã thần”?
A. Vì ông huấn luyện ngựa giỏi như thần.
B. Vì ông chỉ huấn luyện ngựa thần.
C. Vì ông luyện ngựa bằng phép thần.
D. Vì ngựa của ông làm xiếc như thần.
Phương pháp giải:
Căn cứ nội dung bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.
Lời giải chi tiết:
Người Ả Rập trong bài được gọi là “mã thần” vì ông huấn luyện ngựa giỏi như thần.
Đáp án A.
Câu 3. Người huấn luyện ngựa nhảy qua nhảy lại hai bên yên ngựa để làm gì?
A. Để ngựa biết biểu diễn xiếc.
B. Để ngựa giữ thăng bằng.
C. Để ngựa biết phục tùng.
D. Để ngựa biết nghe hiệu lệnh.
Phương pháp giải:
Căn cứ bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.
Lời giải chi tiết:
Người huấn luyện ngựa nhảy qua nhảy lại hai bên yên ngựa để ngựa giữ thăng bằng.
Đáp án B.
Câu 4. Mã thần cưỡi ngựa vào sa mạc lúc giữa trưa để làm gì?
A. Để luyện cho ngựa phi nhanh.
B. Để luyện cho ngựa chịu nắng nóng.
C. Để luyện cho ngựa chịu được cát bỏng.
D. Để luyện cho ngựa chịu được cơn khát.
Phương pháp giải:
Căn cứ bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.
Lời giải chi tiết:
Mã thần cưỡi ngựa vào sa mạc lúc giữa trưa để luyện cho ngựa phi nhanh.
Đáp án A.
Câu 5. Em có nhận xét gì về kinh nghiệm huấn luyện ngựa của “mã thần”?
Phương pháp giải:
Căn cứ nội dung bài đọc, suy nghĩ và trả lời.
Lời giải chi tiết:
Kinh nghiệm huấn luyện ngựa của “mã thần” thật đặc biệt và khéo léo. Ông cho những con ngựa lớn dẫn dắt ngựa con để chúng học cách nghe lời và giữ thăng bằng. Việc cho ngựa chạy giữa trưa trong cái nóng gay gắt cũng rất thông minh, giúp chúng biết chạy nhanh hơn. Tất cả những điều này cho thấy sự tỉ mỉ và tâm huyết của ông trong việc tạo ra những con thiên lí mã dũng mãnh.
Câu 6. Gạch chân dưới các động từ trong đoạn văn sau:
Mỗi buổi sáng, ông cho đàn ngựa chạy theo vòng tròn, trong đàn có cả những con ngựa to khoẻ và những con ngựa còn rất nhỏ. Trong khi đó, trợ thủ của ông vừa chỉ huy đàn ngựa vừa bám lấy yên ngựa, nhảy sang trái rồi nhảy sang phải như biểu diễn xiếc.
Phương pháp giải:
Căn cứ bài Động từ.
Lời giải chi tiết:
Mỗi buổi sáng, ông cho đàn ngựa chạy theo vòng tròn, trong đàn có cả những con ngựa to khoẻ và những con ngựa còn rất nhỏ. Trong khi đó, trợ thủ của ông vừa chỉ huy đàn ngựa vừa bám lấy yên ngựa, nhảy sang trái rồi nhảy sang phải như biểu diễn xiếc.
Câu 7. Đặt 2 câu nói về đặc điểm của một loài vật mà em yêu thích.
Phương pháp giải:
Căn cứ vào kiến thức bản thân, suy nghĩ và trả lời.
Lời giải chi tiết:
- Con gà có bộ lông vàng óng.
- Mèo nhà em có đôi mắt tròn xoe.
B. Kiểm tra viết
Phương pháp giải:
Phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
Ngày xửa ngày xưa, thần Giao Long biến thành bà lão già nua bệnh tật để đi thử lòng mọi người. Đến đâu bà lão cũng bị người ta xa lánh. Một hôm bà lão tìm đến một nơi đang diễn ra lễ hội đồng vui. Mọi người đều ăn mặc đẹp, thắp hương khấn cầu Trời, Phật, thần linh ban cho nhiều phúc lộc. Ai cũng nói đến chuyện làm phúc, chuyện lễ nghĩa. Nhưng mọi người đều xa lánh, đều từ chối, đều xua đuổi bà lão đói khổ khi bà cất tiếng van xin.
Trời sắp tối. Bà lão ăn mày lập cập bước vào một túp lều của hai mẹ con bà Góa nghèo khổ. Chỉ có một bát cơm nguội, hai mẹ con dành cho bà lão ăn mày. Chỉ có một manh chiếu rách, hai mẹ con cũng nhường cho con người khốn khổ. Bà lão ăn mày cảm động lắm cất tiếng cảm ơn và nói: "Hai mẹ con bà tuy nghèo mà phúc đức lắm, Trời sẽ phù hộ cho". Trước khi bước ra đi, bà lão đưa cho hai mẹ con bà Góa một gói tro, một chiếc vỏ trấu và dặn: "Nhớ giữ lấy để phòng thân. Lũ lụt, mưa to gió lớn thì rắc tro xung quanh nhà. Nước dâng lên thì thả vỏ trấu xuống...". Rồi bà lão ăn mày biến mất.
Đêm ấy mưa to gió lớn, thần Giao Long còn hóa phép làm cho đất sụt xuống, nước phun lên, dâng lên trắng cả trời đất như biển. Nhiều người bị chết đuối, bị lũ cuốn đi. Hai mẹ con bà Góa rắc tro xung quanh túp lều mình, nước không tràn vào được. Chiếc vỏ trấu, hai mẹ con vừa thả xuống nước, tức thì hóa thành một chiếc thuyền độc mộc rất to, rất dài. Với chiếc thuyền độc mộc ấy, hai mẹ con bà Góa đã cứu được bao nhiêu người thoát chết. Họ không bao giờ quên công ơn của hai mẹ con bà.
Nơi thần Giao Long làm sụt đất ấy biến thành một cái hồ sâu, dài, rộng, bốn bề là vách núi, được người đời gọi là hồ Ba Bể. Giữa hồ mênh mông nổi lên một cái gò cao gọi là gò Bà Góa.
Đã bao đời nay, dân gian vẫn lưu truyền câu ca dao:
"Bắc Cạn có suối đãi vàng,
Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh".
Gợi Ý Phương Pháp Tiếp Cận Cho Bài Học Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2
Với định hướng phát triển năng lực của bộ sách , các bài tập trong phần Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2 thường không đơn thuần chỉ là việc áp dụng một công thức cứng nhắc. Môn Ngữ văn Lớp 4 yêu cầu sự tư duy liên kết rất cao. Đối với các câu hỏi lý thuyết, học sinh cần rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản, trích xuất từ khóa (keyword) quan trọng để trả lời đúng trọng tâm, tránh lan man. Đối với dạng bài tập tính toán hay suy luận logic, điều quan trọng nhất là phải tóm tắt được đề bài (đề bài cho dữ kiện gì, yêu cầu tìm đại lượng nào), sau đó phác thảo sơ đồ tư duy giải quyết vấn đề trước khi bắt tay vào giải chi tiết. Lời giải được cung cấp trong bài viết này đã tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc đó: luôn giải thích lý do tại sao lại sử dụng công thức/phương pháp này để các bạn dễ dàng theo kịp mạch tư duy.
Lưu Ý Quan Trọng Về Cách Trình Bày Bài Tập Môn Ngữ văn
Một bài giải hoàn hảo không chỉ cần đáp số chính xác mà còn phụ thuộc rất lớn vào cách trình bày. Đối với học sinh Lớp 4, việc rèn luyện kỹ năng trình bày khoa học, sạch đẹp là vô cùng cần thiết để ghi trọn vẹn điểm số trong các kỳ thi tự luận. Khi tham khảo lời giải Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2 trên website, các bạn hãy chú ý đến cấu trúc của một bài làm chuẩn mực. Nếu là một bài Toán/Lý/Hóa, hãy luôn nhớ ghi công thức tổng quát trước khi thay số, nhớ ghi đơn vị ở đáp số cuối cùng và có câu kết luận (Vậy...). Nếu là bài Văn/Sử/Địa, hãy trình bày thành các đoạn văn rõ ràng, có luận điểm, luận cứ rành mạch. Đừng bao giờ viết tắt những thuật ngữ chuyên ngành không được phép. Việc tuân thủ sự chỉn chu ngay từ khi làm bài tập về nhà sẽ giúp bạn tạo được thiện cảm rất lớn đối với giáo viên chấm bài.
Lời Khuyên Về Khả Năng Tự Nghiên Cứu Và Tham Khảo Khách Quan
Chúng tôi tạo ra chuyên trang lời giải sách môn Ngữ văn với mong muốn mang đến một "gia sư ảo" (virtual tutor) miễn phí, giúp các bạn học sinh tháo gỡ những khúc mắc ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kiến thức luôn mang tính đa chiều, đặc biệt đối với các câu hỏi mở, câu hỏi vận dụng sáng tạo (VDC) trong SGK. Đáp án mà chúng tôi đưa ra trong bài Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2 được xem là phương án tham khảo chuẩn mực và logic nhất, nhưng không phải là duy nhất. Chúng tôi luôn khuyến khích các bạn phát huy tư duy phản biện (Critical Thinking). Nếu bạn tìm ra một cách giải khác ngắn gọn hơn, thông minh hơn, hoặc có một góc nhìn lập luận sắc bén hơn so với bài giải mẫu, hãy mạnh dạn chia sẻ nó trong phần Bình luận (Comment) ở phía dưới trang. Điều đó chứng tỏ bạn đã thực sự thấu hiểu và làm chủ được môn học này.
Góc Thảo Luận Và Hỗ Trợ Chuyên Môn Trực Tuyến
Quá trình tự học môn Ngữ văn lớp 4 đôi khi sẽ khiến bạn cảm thấy đơn độc và bế tắc khi đối mặt với một vấn đề quá hóc búa. Đừng lo lắng! Chuyên mục hướng dẫn giải bài Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 - Đề số 2 của chúng tôi được thiết kế đi kèm với hệ thống hỏi đáp tương tác trực tiếp. Nếu trong quá trình đối chiếu bài giải mà bạn phát hiện ra một dấu phép tính bị sai sót do lỗi đánh máy, hoặc có một bước biến đổi công thức nào đó quá tắt khiến bạn không hiểu được, xin vui lòng để lại ý kiến ngay lập tức. Đội ngũ giáo viên và các kiểm duyệt viên học thuật của website sẽ thường xuyên theo dõi các câu hỏi của học sinh để giải đáp, giải thích lại cặn kẽ (reply) trong thời gian sớm nhất, đảm bảo luồng kiến thức bạn tiếp nhận luôn được thông suốt và chính xác tuyệt đối.