Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo - Đề số 2

Tổng quan nội dung

Lời Giải Chi Tiết: Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo - Đề số 2

Bạn đang theo dõi bài viết hướng dẫn chi tiết Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo - Đề số 2 thuộc chương trình môn Ngữ văn Lớp 4 của bộ sách . Để hoàn thành tốt bài học này, học sinh cần nắm vững các lý thuyết trọng tâm đã được thầy cô giảng dạy trên lớp, từ đó vận dụng linh hoạt vào việc phân tích và giải quyết các câu hỏi, bài tập thực hành. Bài viết dưới đây được biên soạn bởi đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, trình bày tuần tự và rõ ràng lời giải cho từng mục trong SGK (bao gồm cả các câu hỏi thảo luận Khởi động/Khám phá lẫn bài tập tự luận cuối bài). Hãy đọc kỹ từng bước hướng dẫn (step-by-step) để hiểu rõ bản chất vấn đề thay vì chỉ sao chép kết quả cuối cùng nhé.

Hãy để tiền vào chỗ cũ Pu-ghi có một người láng giềng rất hay sang nhà vay tiền. – Pu-ghi, anh có thể cho tôi mượn tạm năm đồng được không ? – Sao lại không được ? – Pu-ghi đáp – Tiền để ở dưới gối ấy, anh cứ việc lấy.

Đề bài

A. Kiểm tra đọc

I. Đọc thành tiếng

GV cho học sinh đọc một đoạn trong các bài tập đọc và trả lời một số câu hỏi về nội dung đoạn vừa đọc theo quy định.

II. Đọc thầm văn bản sau:

Hãy để tiền vào chỗ cũ

Pu-ghi có một người láng giềng rất hay sang nhà vay tiền.

– Pu-ghi, anh có thể cho tôi mượn tạm năm đồng được không ?

– Sao lại không được ? – Pu-ghi đáp – Tiền để ở dưới gối ấy, anh cứ việc lấy.

Ít ngày sau, người láng giềng lại đến và nói:

– Pu-ghi, tôi đem trả lại tiền anh đây.

– Anh lấy ở đâu, xin cứ chỗ ấy mà để !

Người láng giềng đem tiền trả lại dưới gối. Chuyện cứ thế xảy ra mấy lần: “Pu-ghi, anh có thể cho tôi mượn tạm năm đồng được không? – Sao lại không được? Tiền để ở dưới gối ấy, anh cứ việc lấy.”

Rồi một hôm, anh chàng láng giềng nảy ý gian: “Pu-ghi không hề kiểm tra xem ta có để tiền dưới gốì không, vậy ta thật thà mà làm gì!”. Nghĩ vậy, anh ta đến nhà Pu-ghi trả tiền nhưng lại nhét tiền trở lại túi áo của mình và ra về.

Bẵng đi một dạo, anh láng giềng bí tiền tiêu, không còn cách nào khác, lại đến nhà Pu-ghi:

– Pu-ghi, anh có thể cho tôi mượn tạm năm đồng được không?

– Ờ, sao lại không được? Tiền để ở dưới gối ấy, anh cứ việc lấy.

Người láng giềng lại đến chỗ để chiếc gối nhưng chẳng thấy đồng tiền nào. Anh chàng báo cho Pu-ghi biết chuyện đó. Pu-ghi thản nhiên đáp:

– Đúng rồi, muốn dưới gối có tiền, anh hãy trả lại tiền vào đấy!

 (Truyện vui dân gian thế giới)

Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu:

Câu 1. Ở đoạn đầu câu chuyện, những câu trả lời của Pu-ghi với người láng giềng khi anh ta sang vay và trả tiền cho thấy điều gì ở nhân vật này?

A. Pu-ghi là người giàu có.

B. Pu-ghi là người keo kiệt.

C. Pu-ghi sẵn sàng giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn.

D. Pu-ghi không muốn cho người láng giếng mượn tiền.

Câu 2. Nhân vật người láng giềng trong câu chuyện là người như thế nào?

A. Trung thực, tham lam.

B. Tự tin, hay dựa dẫm.

C. Lười biếng, giàu có.

D. Thiếu trung thực, tham lam.

Câu 3. Thành ngữ nào sau đây phù hợp để nói về hành động của người láng giềng trong câu chuyện?

A. Ăn cháo đá bát.

B. Ăn cây nào, rào cây đấy.

C. Ăn cay nuốt đắng.

D. Ăn chắc mặc bền.

Câu 4. Câu nói “Đúng rồi, muốn dưới gối có tiền, anh hãy trả lại tiền vào đấy!” của Pu-ghi nhằm mục đích gì?

A. Pu-ghi muốn thông báo mình đã hết sạch tiền vì người láng giềng đã không chịu để số tiền vào chỗ cũ.

B. Pu-ghi muốn nhắn nhủ tới người láng giềng: muốn nhận được sự giúp đỡ của người khác thì trước hết chúng ta cần trung thực.

C. Pu-ghi muốn thể hiện sự giận dữ đối với hành động của người láng giềng.

D. Pu-ghi chỉ muốn đòi lại số tiền đã mất.

Câu 5. Câu chuyện trên khuyên chúng ta điều gì?

Câu 6. Điền các từ thích hợp vào chỗ chấm để có các thành ngữ nói về đức tính trung thực, thật thà:

a. Thật như ........................................................................................................................

b. Ruột để ngoài.................................................................................................................

c. Ăn ngay nói ...................................................................................................................

d. Thẳng như ruột ..............................................................................................................

Câu 7. Xác định động từ (ĐT), tính từ (TT) của các từ được gạch chân.

Nếu bén những nhánh rễ vào lòng đất sâu bên dưới, tôi không biết sẽ gặp phải điều gì ở nơi tối tăm đó. Và giả như những chồi non của tôi có mọc ra, đám côn trùng sẽ kéo đến và nuốt ngay lấy chúng.

Câu 8. Đặt câu có sử dụng hình ảnh nhân hóa để nói về “mặt trời”.

B. Kiểm tra viết

Đề bài: Em hãy viết bài văn kể lại câu chuyện đã đọc, đã nghe nói về lòng trung thực.

Lời giải

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAHAY.COM

1. C

2. D

3. A

4. B

A. Kiểm tra đọc

I. Đọc thành tiếng

II. Đọc thầm văn bản sau:

Câu 1. Ở đoạn đầu câu chuyện, những câu trả lời của Pu-ghi với người láng giềng khi anh ta sang vay và trả tiền cho thấy điều gì ở nhân vật này?

A. Pu-ghi là người giàu có.

B. Pu-ghi là người keo kiệt.

C. Pu-ghi sẵn sàng giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn.

D. Pu-ghi không muốn cho người láng giếng mượn tiền.

Phương pháp giải:

Căn cứ nội dung bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.

Lời giải chi tiết:

Ở đoạn đầu câu chuyện, những câu trả lời của Pu-ghi với người láng giềng khi anh ta sang vay và trả tiền cho thấy Pu-ghi sẵn sàng giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn.

Đáp án C.

Câu 2. Nhân vật người láng giềng trong câu chuyện là người như thế nào?

A. Trung thực, tham lam.

B. Tự tin, hay dựa dẫm.

C. Lười biếng, giàu có.

D. Thiếu trung thực, tham lam.

Phương pháp giải:

Căn cứ nội dung bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.

Lời giải chi tiết:

Nhân vật người láng giềng trong câu chuyện là người thiếu trung thực, tham lam.

Đáp án D.

Câu 3. Thành ngữ nào sau đây phù hợp để nói về hành động của người láng giềng trong câu chuyện?

A. Ăn cháo đá bát.

B. Ăn cây nào, rào cây đấy.

C. Ăn cay nuốt đắng.

D. Ăn chắc mặc bền.

Phương pháp giải:

Căn cứ bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.

Lời giải chi tiết:

Thành ngữ “Ăn cháo đá bát” phù hợp để nói về hành động của người láng giềng trong câu chuyện.

Thành ngữ “Ăn cháo đá bát” phê phán những kẻ chỉ biết đến lợi ích của mình, sống vô ơn, bạc nghĩa với những người đã từng giúp đỡ trong lúc hoạn nạn.

Đáp án A.

Câu 4. Câu nói “Đúng rồi, muốn dưới gối có tiền, anh hãy trả lại tiền vào đấy!” của Pu-ghi nhằm mục đích gì?

A. Pu-ghi muốn thông báo mình đã hết sạch tiền vì người láng giềng đã không chịu để số tiền vào chỗ cũ.

B. Pu-ghi muốn nhắn nhủ tới người láng giềng: muốn nhận được sự giúp đỡ của người khác thì trước hết chúng ta cần trung thực.

C. Pu-ghi muốn thể hiện sự giận dữ đối với hành động của người láng giềng.

D. Pu-ghi chỉ muốn đòi lại số tiền đã mất.

Phương pháp giải:

Căn cứ bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.

Lời giải chi tiết:

Câu nói “Đúng rồi, muốn dưới gối có tiền, anh hãy trả lại tiền vào đấy!” của Pu-ghi nhằm mục đích nhắn nhủ tới người láng giềng: muốn nhận được sự giúp đỡ của người khác thì trước hết chúng ta cần trung thực.

Đáp án B.

Câu 5. Câu chuyện trên khuyên chúng ta điều gì?

Phương pháp giải:

Căn cứ nội dung bài đọc, suy nghĩ và trả lời.

Lời giải chi tiết:

Câu chuyện khuyên chúng ta cần sống trung thực trong mọi hoàn cảnh. Nếu muốn nhận lại tiền, trước tiên chúng ta phải trả lại những gì đã mượn. Điều này cũng nhấn mạnh rằng, không nên lạm dụng lòng tin của người khác, bởi sự trung thực là nền tảng của mọi mối quan hệ tốt đẹp.

Câu 6. Điền các từ thích hợp vào chỗ chấm để có các thành ngữ nói về đức tính trung thực, thật thà:

a. Thật như ........................................................................................................................

b. Ruột để ngoài da ...........................................................................................................

c. Ăn ngay nói ...................................................................................................................

d. Thẳng như ruột ..............................................................................................................

Phương pháp giải:

Căn cứ kiến thức của bản thân, suy nghĩ và trả lời.

Lời giải chi tiết:

a. Thật như đếm.

b. Ruột để ngoài da.

c. Ăn ngay nói thẳng.

d. Thẳng như ruột ngựa.

Câu 7. Xác định động từ (ĐT), tính từ (TT) của các từ được gạch chân.

Nếu bén những nhánh rễ vào lòng đất sâu bên dưới, tôi không biết sẽ gặp phải điều gì ở nơi tối tăm đó. Và giả như những chồi non của tôi có mọc ra, đám côn trùng sẽ kéo đến và nuốt ngay lấy chúng.

Phương pháp giải:

Căn cứ vào nội dung bài Động từ, Tính từ.

Lời giải chi tiết:

ĐT: mọc, kéo

TT: sâu, tối tăm

Câu 8. Đặt câu có sử dụng hình ảnh nhân hóa để nói về “mặt trời”.

Phương pháp giải:

Căn cứ vào kiến thức bản thân, suy nghĩ và trả lời.

Lời giải chi tiết:

Mặt trời thức dậy từ lớp chăn mây bồng bềnh, chiếu những tia nắng ban mai đánh thức muôn loài.

B. Kiểm tra viết

Phương pháp giải:

Phân tích, tổng hợp.

Lời giải chi tiết:

Bài tham khảo 1:

Bác Hồ đã từng dạy các cháu nhi đồng “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”. Cậu bé đánh giày bên hè phố kia quả thực là cháu ngoan của Bác. Bởi cậu đã rất thật thà.

Hôm nay, cậu lại xách đồ nghề của mình đi làm. Cậu bé chừng sáu, bảy tuổi, chắc sống ngay khu này. Trời lạnh, nhưng cậu chỉ mặc một chiếc áo len đã sờn màu, mỏng dính. Đôi chân đi đôi dép lê màu đen, ố vàng những vết đất. Chắc cơn mưa phùn tối qua làm đường trơn bẩn nên đôi chân cậu cũng vấy bẩn theo. Cậu bước vào một sảnh của quán cà phê. Lần lượt tới từng bàn và hỏi những vị khách ngồi đó có đánh giày không. Một vài vị khách lắc đầu. Bước tới bàn ở góc, cậu bé bị vị khách quát lớn “Đi ra chỗ khác cho người ta làm việc”. Cậu cúi mặt bỏ đi. Rồi ngay sau đó, vị khách lại gọi cậu bé lại. Cởi đôi giày đen của mình cho cậu bé lau lau, chùi chùi.

Khi vị khách đi ra bãi đỗ xe, cậu bé kia chạy nhanh theo và hình như gọi gì đó. Nhưng vị khách đã lên xe và phóng đi. Tới ngã tư đèn đỏ, vị khách đỗ xe dừng đến ngay bên vệ đường. Nhìn qua gương, anh thấy cậu bé đang chạy đuổi theo. Anh liền tấp xe lên vỉa hè. Cậu bé chạy nhanh tới, thở hổn hển và nói:

- Chú ơi! Chú trả tiền nhầm ạ.

Vị khách ngạc nhiên nhìn cậu.

- Chú đánh giày hết hai mươi ngàn đồng, chú đưa nhầm cháu thành năm trăm ngàn đồng rồi ạ. – Vừa nói, cậu bé vừa xòe tờ tiền ra đưa lại cho vị khách.

Vị khách mỉm cười, nhìn xung quanh và nói: “Cháu có thích ăn bánh không?” Cậu nhìn vị khách với đôi mắt ngơ ngác khó hiểu. Vị khách tiếp lời: “Chú sẽ tặng cháu một chiếc bánh thật ngon.”

Cậu bé cầm chiếc bánh mừng rỡ. Có lẽ, đó là khuôn mặt hạnh phúc của một cậu bé nghèo khổ nhưng thật thà. Cậu lại tiếp tục đi quanh phố để chăm chỉ làm công việc của mình.

Bài tham khảo 2:

Hôm ấy là ngày kiểm tra học kì môn Toán. Em đọc đề bài và chỉ làm được một câu duy nhất.

Em cắn bút đọc đi, đọc lại đề bài, không có một tý kiến thức nào lóe lên trong đầu. Em không đổi được đơn vị, không biết toán giải làm mấy bước tính. Cả cái hình vẽ tam giác, tứ giác cũng rối mù, rối tinh lên. Em nhìn xung quanh: các bạn cắm cúi viết, đưa tay nhẩm tính. Chỉ có mình em ngơ ngác, dốt đặc. Em chưa biết tính sao thì một tờ giấy tròn vo lăn nhẹ dưới chân. Em nhặt viên giấy, mở ra xem. Đầu trang giấy là dòng chữ: “Bạn viết nhanh lên. Sắp hết giờ rồi!”, dưới đó là bài giải đề bài đang kiểm tra. Thế này là tốt hay tệ đây? Em tự hỏi mình rồi quyết định gấp tờ giấy vuông lại. Em không thể trả lại tờ giấy được vì thầy giáo xem thi sẽ phạt. Hồi lâu, chuông báo hết giờ vang lên. Em nộp bài làm chỉ có một câu của mình rồi thu xếp ra về. Đóng cặp lại, ngẩng đầu lên, em thấy Hùng đứng trước bàn mình. Hùng hỏi:

– Bạn chép kịp không?

Em chia tờ giấy gấp vuông đưa trả lại cho Hùng nói nhỏ:

– Cảm ơn bạn nhưng mình không chép một câu nào cả. Mình làm được câu tính cộng mà thôi!

Hùng tròn mắt:

– Bạn sẽ không đạt điểm tốt trong kì thi.

Em gật đầu:

– Mình sẽ tự học và phải học chăm chỉ. Còn đến ba kỳ thi nữa cơ mà.

Bài kiểm tra lần ấy em chỉ đạt một điểm và một dấu chấm hỏi. Anh trai em suýt cho em một trận đòn dữ. Em chỉ nói rất nhỏ:

– Em xin hứa sẽ tự học chăm chỉ.

Em bắt đầu học và làm bài tập từ tiết đầu của năm học. Chỗ nào không hiểu em hỏi anh trai em. Ba lần thi sau. Em đều đạt điểm mười.

Chuyện xảy ra từ hồi em học lớp ba. Cái điểm một lần thi ấy làm các bạn thắc mắc. có bạn cười nhạo em. Riêng em,em vui vì mình đã quyết định đúng theo lời cô giáo dạy: “Phải trung thực khi làm bài!”.

Gợi Ý Phương Pháp Tiếp Cận Cho Bài Học Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo - Đề số 2

Với định hướng phát triển năng lực của bộ sách , các bài tập trong phần Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo - Đề số 2 thường không đơn thuần chỉ là việc áp dụng một công thức cứng nhắc. Môn Ngữ văn Lớp 4 yêu cầu sự tư duy liên kết rất cao. Đối với các câu hỏi lý thuyết, học sinh cần rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản, trích xuất từ khóa (keyword) quan trọng để trả lời đúng trọng tâm, tránh lan man. Đối với dạng bài tập tính toán hay suy luận logic, điều quan trọng nhất là phải tóm tắt được đề bài (đề bài cho dữ kiện gì, yêu cầu tìm đại lượng nào), sau đó phác thảo sơ đồ tư duy giải quyết vấn đề trước khi bắt tay vào giải chi tiết. Lời giải được cung cấp trong bài viết này đã tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc đó: luôn giải thích lý do tại sao lại sử dụng công thức/phương pháp này để các bạn dễ dàng theo kịp mạch tư duy.

Lưu Ý Quan Trọng Về Cách Trình Bày Bài Tập Môn Ngữ văn

Một bài giải hoàn hảo không chỉ cần đáp số chính xác mà còn phụ thuộc rất lớn vào cách trình bày. Đối với học sinh Lớp 4, việc rèn luyện kỹ năng trình bày khoa học, sạch đẹp là vô cùng cần thiết để ghi trọn vẹn điểm số trong các kỳ thi tự luận. Khi tham khảo lời giải Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo - Đề số 2 trên website, các bạn hãy chú ý đến cấu trúc của một bài làm chuẩn mực. Nếu là một bài Toán/Lý/Hóa, hãy luôn nhớ ghi công thức tổng quát trước khi thay số, nhớ ghi đơn vị ở đáp số cuối cùng và có câu kết luận (Vậy...). Nếu là bài Văn/Sử/Địa, hãy trình bày thành các đoạn văn rõ ràng, có luận điểm, luận cứ rành mạch. Đừng bao giờ viết tắt những thuật ngữ chuyên ngành không được phép. Việc tuân thủ sự chỉn chu ngay từ khi làm bài tập về nhà sẽ giúp bạn tạo được thiện cảm rất lớn đối với giáo viên chấm bài.

Lời Khuyên Về Khả Năng Tự Nghiên Cứu Và Tham Khảo Khách Quan

Chúng tôi tạo ra chuyên trang lời giải sách môn Ngữ văn với mong muốn mang đến một "gia sư ảo" (virtual tutor) miễn phí, giúp các bạn học sinh tháo gỡ những khúc mắc ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kiến thức luôn mang tính đa chiều, đặc biệt đối với các câu hỏi mở, câu hỏi vận dụng sáng tạo (VDC) trong SGK. Đáp án mà chúng tôi đưa ra trong bài Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo - Đề số 2 được xem là phương án tham khảo chuẩn mực và logic nhất, nhưng không phải là duy nhất. Chúng tôi luôn khuyến khích các bạn phát huy tư duy phản biện (Critical Thinking). Nếu bạn tìm ra một cách giải khác ngắn gọn hơn, thông minh hơn, hoặc có một góc nhìn lập luận sắc bén hơn so với bài giải mẫu, hãy mạnh dạn chia sẻ nó trong phần Bình luận (Comment) ở phía dưới trang. Điều đó chứng tỏ bạn đã thực sự thấu hiểu và làm chủ được môn học này.

Góc Thảo Luận Và Hỗ Trợ Chuyên Môn Trực Tuyến

Quá trình tự học môn Ngữ văn lớp 4 đôi khi sẽ khiến bạn cảm thấy đơn độc và bế tắc khi đối mặt với một vấn đề quá hóc búa. Đừng lo lắng! Chuyên mục hướng dẫn giải bài Đề thi giữa học kì 1 Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo - Đề số 2 của chúng tôi được thiết kế đi kèm với hệ thống hỏi đáp tương tác trực tiếp. Nếu trong quá trình đối chiếu bài giải mà bạn phát hiện ra một dấu phép tính bị sai sót do lỗi đánh máy, hoặc có một bước biến đổi công thức nào đó quá tắt khiến bạn không hiểu được, xin vui lòng để lại ý kiến ngay lập tức. Đội ngũ giáo viên và các kiểm duyệt viên học thuật của website sẽ thường xuyên theo dõi các câu hỏi của học sinh để giải đáp, giải thích lại cặn kẽ (reply) trong thời gian sớm nhất, đảm bảo luồng kiến thức bạn tiếp nhận luôn được thông suốt và chính xác tuyệt đối.