Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 5 - Đề số 5

Tổng quan nội dung

Lời Giải Chi Tiết: Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 5 - Đề số 5

Bạn đang theo dõi bài viết hướng dẫn chi tiết Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 5 - Đề số 5 thuộc chương trình môn Ngữ văn Lớp 5 của bộ sách . Để hoàn thành tốt bài học này, học sinh cần nắm vững các lý thuyết trọng tâm đã được thầy cô giảng dạy trên lớp, từ đó vận dụng linh hoạt vào việc phân tích và giải quyết các câu hỏi, bài tập thực hành. Bài viết dưới đây được biên soạn bởi đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, trình bày tuần tự và rõ ràng lời giải cho từng mục trong SGK (bao gồm cả các câu hỏi thảo luận Khởi động/Khám phá lẫn bài tập tự luận cuối bài). Hãy đọc kỹ từng bước hướng dẫn (step-by-step) để hiểu rõ bản chất vấn đề thay vì chỉ sao chép kết quả cuối cùng nhé.

Câu chuyện về núi lửa Cuối tuần, Mi-a, Tôm và Ê-ma đến thư viện đọc sách. Họ đã tìm thấy một cuốn sách kì bí có tên “Những câu chuyện về núi lửa”. Trang đầu tiên của cuốn sách là hình ảnh phổ biến nhất của núi lửa – một ngọn núi hình nón, đang phun dung nham và khí độc từ miệng trên của đỉnh núi.

Đề bài

A. Kiểm tra đọc

I. Đọc thành tiếng

GV cho học sinh đọc một đoạn trong các bài tập đọc và trả lời một số câu hỏi về nội dung đoạn vừa đọc theo quy định.

II. Đọc thầm văn bản sau:

Màu sắc từ trái tim

Từ khi sinh ra, Lâm đã không thể phân biệt được màu sắc. Với cậu, màu xanh, màu đỏ hay màu vằng đều chỉ là tên gọi. Một ngày nọ, khi đi dạo đến chân núi, Lâm gặp một cô bé đang ngồi vẽ tranh.

- Bạn đang vẽ gì vậy? – Lâm lại gần và khẽ hỏi.

Cô bé cưởi trả lời: “Tôi đang vẽ bầu trời xanh.”.

Lâm nhìn vào bức tranh và càng thêm tò mò: “Bạn có thể nói cho tôi biết màu xanh da trời trông như thế nào không?”.

- Đó là màu của sự yên bình và tự do. Khi nhìn nó, cậu sẽ thấy có thêm hi vọng.

Lâm lại hỏi về các màu sắc khác và cô bé tiếp tục miêu tả. lâm cẩn thận lắng nghe, thế giới của cậu dần trở nên rực rỡ hơn với màu sắc của hi vọng, tình yêu, hòa bình,… Lâm nhận ra rằng, dù không thể thấy được màu sắc, nhưng cậu có thể cảm nhận sự khác nhau của mỗi vật. Bởi mọi thứ đều có ý nghĩa riêng của mình.

Theo Hồng Thư

Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu:

Câu 1. Vì sao với Lâm màu xanh, màu đỏ hay màu vàng đều chỉ là tên gọi?

A. Vì cậu không thể phân biệt đồ vật.

B. Vì cậu không thể phân biệt màu sắc.

C. Vì cậu không biết các màu này.

D. Vì cậu không thể nhìn thấy.

Câu 2. Cô bé đã làm gì để giúp Lâm hiểu hơn về màu sắc?

A. Miêu tả lại màu sắc qua bức tranh.

B. Dạy Lâm phân biệt màu sắc.

C. Miêu tả lại màu sắc qua sự vật.

D. Miêu tả màu sắc qua ý nghĩa.

Câu 3. Qua bài đọc, em hiểu ra được điều gì?

A. Mọi vật đều có ý nghĩa của riêng mình.

B. Hãy quan sát mọi vật xung quanh.

C. Hãy biết yêu thương, chia sẻ.

D. Màu xanh là màu của hi vọng.

Câu 4. Tìm trong bài đọc ba đại từ và hai danh từ dùng để xưng hô:

Câu 5. Khoang tròn vào kết từ phù hợp trong ngoặc để hoàn thành đoạn văn sau:

Khang cầm bút, suy nghĩ thật cẩn thận (nên / rồi) bắt đầu vẽ. Đầu tiên, em dùng màu xanh (dù / để) vẽ bầu trời. Sau đó, em vẽ đồng cỏ xanh, vẽ bông hoa xinh (và / với) vẽ ong bướm bay dập dờn. Cuối cùng, em vẽ một ông mặt trời (với / vì) màu đỏ chói, đang chiếu sáng cho muôn loài.

Câu 6. Từ “chân” trong câu dưới đây được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Cho biết nghĩa của từ đó:

Một ngày nọ, khi đi dạo đến chân núi, Lâm gặp một cô bé đang ngồi vẽ tranh.

Câu 7. Em hãy tìm 2 – 3 từ đồng nghĩa với từ “yên bình” và đặt một câu với từ vừa tìm được.

B. Kiểm tra viết

Đề bài: Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc, đã nghe mà em thích bằng lời của một nhân vật trong câu chuyện đó.

-------- Hết --------

Lời giải

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAHAY.COM

1.B

2. D

3. A

A. Kiểm tra đọc

I. Đọc thành tiếng

II. Đọc thầm văn bản sau:

Câu 1. Vì sao với Lâm màu xanh, màu đỏ hay màu vàng đều chỉ là tên gọi?

A. Vì cậu không thể phân biệt đồ vật.

B. Vì cậu không thể phân biệt màu sắc.

C. Vì cậu không biết các màu này.

D. Vì cậu không thể nhìn thấy.

Phương pháp giải:

Căn cứ nội dung bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.

Lời giải chi tiết:

Với Lâm màu xanh, màu đỏ hay màu vàng đều chỉ là tên gọivì cậu không thể phân biệt màu sắc.

Đáp án B.

Câu 2. Cô bé đã làm gì để giúp Lâm hiểu hơn về màu sắc?

A. Miêu tả lại màu sắc qua bức tranh.

B. Dạy Lâm phân biệt màu sắc.

C. Miêu tả lại màu sắc qua sự vật.

D. Miêu tả màu sắc qua ý nghĩa.

Phương pháp giải:

Căn cứ nội dung bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.

Lời giải chi tiết:

Cô bé đã miêu tả lại màu sắc qua ý nghĩa để giúp Lâm hiểu hơn về màu sắc.

Đáp án D.

Câu 3. Qua bài đọc, em hiểu ra được điều gì?

A. Mọi vật đều có ý nghĩa của riêng mình.

B. Hãy quan sát mọi vật xung quanh.

C. Hãy biết yêu thương, chia sẻ.

D. Màu xanh là màu của hi vọng.

Phương pháp giải:

Căn cứ bài đọc hiểu, đọc và tìm ý.

Lời giải chi tiết:

Qua bài đọc, em hiểu ra được rằng mọi vật đều có ý nghĩa của riêng mình.

Đáp án A.

Câu 4. Tìm trong bài đọc ba đại từ và hai danh từ dùng để xưng hô:

Phương pháp giải:

Căn cứ vào bài Đại từ và Danh từ.

Lời giải chi tiết:

- Ba đại từ: Tôi, Đó, nó.

- Hai danh từ dùng để xưng hô: Bạn, cậu.

Câu 5. Khoang tròn vào kết từ phù hợp trong ngoặc để hoàn thành đoạn văn sau:

Khang cầm bút, suy nghĩ thật cẩn thận (nên / rồi) bắt đầu vẽ. Đầu tiên, em dùng màu xanh (dù / để) vẽ bầu trời. Sau đó, em vẽ đồng cỏ xanh, vẽ bông hoa xinh (và / với) vẽ ong bướm bay dập dờn. Cuối cùng, em vẽ một ông mặt trời (với / vì) màu đỏ chói, đang chiếu sáng cho muôn loài.

Phương pháp giải:

Căn cứ vào bài Kết từ.

Lời giải chi tiết:

Khang cầm bút, suy nghĩ thật cẩn thận rồi bắt đầu vẽ. Đầu tiên, em dùng màu xanh để vẽ bầu trời. Sau đó, em vẽ đồng cỏ xanh, vẽ bông hoa xinh vẽ ong bướm bay dập dờn. Cuối cùng, em vẽ một ông mặt trời với màu đỏ chói, đang chiếu sáng cho muôn loài.

Câu 6. Từ “chân” trong câu dưới đây được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Cho biết nghĩa của từ đó:

Một ngày nọ, khi đi dạo đến chân núi, Lâm gặp một cô bé đang ngồi vẽ tranh.

Phương pháp giải:

Căn cứ vào bài Từ đa nghĩa.

Lời giải chi tiết:

- Từ “chân” được dùng với nghĩa chuyển.

- Nghĩa của từ “chân” trong bài: phần dưới cùng của một số vật, tiếp giáp và bám chặt vào mặt nền.

Câu 7. Em hãy tìm 2 – 3 từ đồng nghĩa với từ “yên bình” và đặt một câu với từ vừa tìm được.

Phương pháp giải:

Căn cứ nội dung bài Từ đồng nghĩa.

Lời giải chi tiết:

- Từ đồng nghĩa : thanh bình, hòa bình, yên lành

- Đặt câu: Làng quê em thật thanh bình, những cánh đồng xanh mướt và tiếng gió nhẹ thổi qua khiến em cảm thấy rất yên tĩnh và vui vẻ.

B. Kiểm tra viết

Phương pháp giải:

Phân tích, tổng hợp.

Lời giải chi tiết:

Dàn ý:

Mở bài: Giới thiệu câu chuyện.

– Người kể chuyện.

– Hoàn cảnh diễn ra câu chuyện.

Thân bài: Kể lại câu chuyện.

– Chọn lời xưng hô phù hợp.

– Kể đầy đủ các sự việc. Có thể kể chi tiết hơn đối với sự việc chính.

– Đặt mình vào vai nhân vật:

+ Thể hiện lời nói, ý nghĩ,... phù hợp.

+ Nhận xét, đánh giá nhân vật, sự việc.

Kết bài:

- Nếu kết thúc của câu chuyện.

- Bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc hoặc rút ra nội dung, ý nghĩa của câu chuyện.

Bài tham khảo 1:

Tôi là người em trong câu chuyện "Sự tích cây khế”, và đây là câu chuyện đáng nhớ của cuộc đời tôi. Gia đình tôi từng sống trong cảnh nghèo khó, và khi cha mẹ qua đời, anh trai và tôi phải chia gia tài. Anh trai tham lam, lấy hết nhà cửa, ruộng vườn, trong khi tôi chỉ nhận được một cây khế và một túp lều nhỏ. Dù vậy, tôi vẫn chăm sóc cây khế với tất cả lòng nhiệt thành, hy vọng nó sẽ lớn nhanh và ra trái cho tôi có cái ăn.

Một ngày nọ, cây khế kết trái, và quả khế ngọt ngào đã mang lại niềm vui nhỏ trong cuộc sống khó khăn của tôi. Không ngờ, một con chim thần bay đến và ăn quả khế trên cây. Lo lắng vì không còn gì để ăn, tôi đã nói với chim rằng nếu ăn quả khế, chim phải trả cục vàng. Chim thần đồng ý và bảo tôi may một túi ba gang để mang vàng về. Tôi làm theo, và chim đưa tôi đến một hòn đảo đầy vàng bạc châu báu. Tôi chỉ lấy vừa đủ để bỏ đầy túi ba gang rồi trở về.

Nhờ số vàng đó, tôi trở nên giàu có, xây dựng nhà cửa khang trang và giúp đỡ những người nghèo khó. Khi anh trai nghe tin về sự thay đổi của tôi, anh trở nên ghen tị và quyết định đổi tài sản của mình để lấy cây khế. Anh trai may túi mười hai gang để đựng vàng, nhưng vì tham lam, anh lấy đầy túi. Khi chim thần bay qua biển, túi vàng quá nặng khiến anh bị rơi xuống nước và chết.

Cuộc đời tôi từ đó trở nên yên bình và hạnh phúc. Bài học từ câu chuyện này là lòng tham lam sẽ dẫn đến kết cục bi thảm, còn sự cần cù, biết đủ và sống lương thiện sẽ mang lại hạnh phúc bền vững.

Bài tham khảo 2:

Tôi là Thì Là. Tôi muốn kể cho các bạn nghe về sự tích cái tên rất thú vị của mình.

Ngày xưa, các loài cây đều chưa có tên. Một hôm, Trời tập hợp chúng lại để ban cho mỗi loài một cái tên. Các loài cây đều đến thật sớm. Ai ai cũng hớn hở mong chờ được Trời đặt cho một cái tên thật đẹp. Mỗi loài cây đều diện bộ trang phục xinh đẹp nhất và khoe điểm nổi bật nhất của mình.

Cây có hương thơm dịu được Trời đặt tên là lan. Cây có điệu múa nhịp nhưng được đặt là tóc tiên. Loài cây có dáng đứng hiên ngang được gọi là thông. Các loại rau có cũng có mặt đông đủ để xin Trời những cái tên thật đẹp như quế, tía tô, húng,...

Đến cuối ngày, khi Trời đã mệt, tôi mới vội vã chạy đến. Tôi thở hổn hển, lòng rạo rực nói:

- Con xin lỗi vì bận chăm sóc bà đang bị bệnh nên con đã đến muộn. Xin Trời hãy thương tình đặt cho con một cái tên.

Thấy tôi run sợ nên Trời không trách phạt mà thương vô cùng. Ông suy nghĩ mãi rồi ngập ngừng:

- Tên của con... thì là... thì là...

Tôi nghe vậy mừng quá, hét toáng lên:

- Tôi có tên rồi! Tên tôi là "thì là”!

Tôi vội vàng cảm ơn Trời rồi chạy về nhà khoe với bà của mình. Bà khen tôi:

- Con có một cái tên thật đặc biệt!

Muôn loài đều rất yêu thích tên của tôi. Từ đó, muôn loài gọi tôi là cây thì là.

Qua câu chuyện, em thấy Thì Là rất hiếu thảo. Trong khi mọi loài cây đều tranh thủ nhanh chân đến gặp ông Trời để xin được đặt những cái tên thật đẹp, do bà em bị ốm, nên Thì Là đã tận tình chăm sóc bà. Chính lòng hiếu thảo của em đã làm ông trời cảm động và muôn loài đều rất yêu mến Thì Là.

Gợi Ý Phương Pháp Tiếp Cận Cho Bài Học Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 5 - Đề số 5

Với định hướng phát triển năng lực của bộ sách , các bài tập trong phần Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 5 - Đề số 5 thường không đơn thuần chỉ là việc áp dụng một công thức cứng nhắc. Môn Ngữ văn Lớp 5 yêu cầu sự tư duy liên kết rất cao. Đối với các câu hỏi lý thuyết, học sinh cần rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản, trích xuất từ khóa (keyword) quan trọng để trả lời đúng trọng tâm, tránh lan man. Đối với dạng bài tập tính toán hay suy luận logic, điều quan trọng nhất là phải tóm tắt được đề bài (đề bài cho dữ kiện gì, yêu cầu tìm đại lượng nào), sau đó phác thảo sơ đồ tư duy giải quyết vấn đề trước khi bắt tay vào giải chi tiết. Lời giải được cung cấp trong bài viết này đã tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc đó: luôn giải thích lý do tại sao lại sử dụng công thức/phương pháp này để các bạn dễ dàng theo kịp mạch tư duy.

Lưu Ý Quan Trọng Về Cách Trình Bày Bài Tập Môn Ngữ văn

Một bài giải hoàn hảo không chỉ cần đáp số chính xác mà còn phụ thuộc rất lớn vào cách trình bày. Đối với học sinh Lớp 5, việc rèn luyện kỹ năng trình bày khoa học, sạch đẹp là vô cùng cần thiết để ghi trọn vẹn điểm số trong các kỳ thi tự luận. Khi tham khảo lời giải Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 5 - Đề số 5 trên website, các bạn hãy chú ý đến cấu trúc của một bài làm chuẩn mực. Nếu là một bài Toán/Lý/Hóa, hãy luôn nhớ ghi công thức tổng quát trước khi thay số, nhớ ghi đơn vị ở đáp số cuối cùng và có câu kết luận (Vậy...). Nếu là bài Văn/Sử/Địa, hãy trình bày thành các đoạn văn rõ ràng, có luận điểm, luận cứ rành mạch. Đừng bao giờ viết tắt những thuật ngữ chuyên ngành không được phép. Việc tuân thủ sự chỉn chu ngay từ khi làm bài tập về nhà sẽ giúp bạn tạo được thiện cảm rất lớn đối với giáo viên chấm bài.

Lời Khuyên Về Khả Năng Tự Nghiên Cứu Và Tham Khảo Khách Quan

Chúng tôi tạo ra chuyên trang lời giải sách môn Ngữ văn với mong muốn mang đến một "gia sư ảo" (virtual tutor) miễn phí, giúp các bạn học sinh tháo gỡ những khúc mắc ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kiến thức luôn mang tính đa chiều, đặc biệt đối với các câu hỏi mở, câu hỏi vận dụng sáng tạo (VDC) trong SGK. Đáp án mà chúng tôi đưa ra trong bài Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 5 - Đề số 5 được xem là phương án tham khảo chuẩn mực và logic nhất, nhưng không phải là duy nhất. Chúng tôi luôn khuyến khích các bạn phát huy tư duy phản biện (Critical Thinking). Nếu bạn tìm ra một cách giải khác ngắn gọn hơn, thông minh hơn, hoặc có một góc nhìn lập luận sắc bén hơn so với bài giải mẫu, hãy mạnh dạn chia sẻ nó trong phần Bình luận (Comment) ở phía dưới trang. Điều đó chứng tỏ bạn đã thực sự thấu hiểu và làm chủ được môn học này.

Góc Thảo Luận Và Hỗ Trợ Chuyên Môn Trực Tuyến

Quá trình tự học môn Ngữ văn lớp 5 đôi khi sẽ khiến bạn cảm thấy đơn độc và bế tắc khi đối mặt với một vấn đề quá hóc búa. Đừng lo lắng! Chuyên mục hướng dẫn giải bài Đề thi cuối học kì 1 Tiếng Việt 5 - Đề số 5 của chúng tôi được thiết kế đi kèm với hệ thống hỏi đáp tương tác trực tiếp. Nếu trong quá trình đối chiếu bài giải mà bạn phát hiện ra một dấu phép tính bị sai sót do lỗi đánh máy, hoặc có một bước biến đổi công thức nào đó quá tắt khiến bạn không hiểu được, xin vui lòng để lại ý kiến ngay lập tức. Đội ngũ giáo viên và các kiểm duyệt viên học thuật của website sẽ thường xuyên theo dõi các câu hỏi của học sinh để giải đáp, giải thích lại cặn kẽ (reply) trong thời gian sớm nhất, đảm bảo luồng kiến thức bạn tiếp nhận luôn được thông suốt và chính xác tuyệt đối.