Bài tập Tiếng Việt trang 46, 47, 48 Sách bài tập Ngữ Văn 6 tập 1 Chân trời sáng tạo
Tổng quan nội dung
Lời Giải Chi Tiết: Bài tập Tiếng Việt trang 46, 47, 48 Sách bài tập Ngữ Văn 6 tập 1 Chân trời sáng tạo
Bạn đang theo dõi bài viết hướng dẫn chi tiết Bài tập Tiếng Việt trang 46, 47, 48 Sách bài tập Ngữ Văn 6 tập 1 Chân trời sáng tạo thuộc chương trình môn Ngữ văn Lớp 6 của bộ sách . Để hoàn thành tốt bài học này, học sinh cần nắm vững các lý thuyết trọng tâm đã được thầy cô giảng dạy trên lớp, từ đó vận dụng linh hoạt vào việc phân tích và giải quyết các câu hỏi, bài tập thực hành. Bài viết dưới đây được biên soạn bởi đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, trình bày tuần tự và rõ ràng lời giải cho từng mục trong SGK (bao gồm cả các câu hỏi thảo luận Khởi động/Khám phá lẫn bài tập tự luận cuối bài). Hãy đọc kỹ từng bước hướng dẫn (step-by-step) để hiểu rõ bản chất vấn đề thay vì chỉ sao chép kết quả cuối cùng nhé.
Đọc từng cặp câu sau Xác định thành phần chủ ngữ và vị ngữ của các câu dưới đây. Dùng cụm từ để mở rộng chủ ngữ hoặc vị ngữ, hoặc cả hai thành phần chính trong các câu ấy. Sau đó so sánh đề làm rõ sự khác biệt nghĩa giữa câu mở rộng và câu trước khi mở rộng.
Câu 1
Đọc từng cặp câu sau:
a1. Đôi khi, chim bay lên.
a2. Đôi khi, những bầy chim hoang dại bay vù lên một loạt.
b1. Trên những ngọn cây già nua, lá vàng khua.
b2. Trên những ngọn cây già nua, những chiếc lá vàng còn sót lại cuối cùng đang khua lao xao trước khi từ giã thân mẹ.
c1. Tóc mẹ đen và dày.
c2. Tóc mẹ đen và dày, phủ kín cả hai vai, xõa xuống ngực, xuống đầu gối.
Em hãy:
- So sánh nghĩa của từng cặp câu trên.
- Xác định nguyên nhân khiến cho nghĩa của từng cặp câu khác nhau.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ và xác định
Lời giải chi tiết:
Trong từng cặp câu trên, các câu a2, b2, c2 trong từng cặp có chủ ngữ được cấu tạo là cụm danh từ, vị ngữ được cấu tạo là một cụm động từ với nhiều thông tin chi tiết hơn các câu a1, b1, c1
Phân tích chi tiết:
a1. Đôi khi, chim (CN) / bay lên (VN).
a2. Đôi khi, những bầy chim hoang dại (CN) / bay vù lên một loạt (VN).
b1. Trên những ngọn cây già nua, lá vàng (CN) / khua (VN).
b2. Trên những ngọn cây già nua, những chiếc lá vàng còn sót lại cuối cùng (CN) / đang khua lao xao trước khi từ giã thân mẹ (VN).
c1. Tóc mẹ (CN) / đen và dày (VN).
c2. Tóc mẹ (CN) / đen và dày, phủ kín cả hai vai, xõa xuống ngực, xuống đầu gối (VN).
Câu 2
Cho từng cặp câu sau:
a1. Giọng bà trầm bổng, ngân nga.
a2. Giọng bà trầm bổng, ngân nga như tiếng chuông.
b1. Cô Gió khẽ lách qua khe cửa kính.
b2. Cô Gió nhẹ nhàng khẽ lách qua khe cửa kính.
c1. Con chim đã không cứu được nó.
c2. Con chim cánh to cánh nhỏ đã không cứu được nó.
d1. Con vật lồng lộn.
d2. Con vật bỗng lồng lộn khắp phòng, như đau đớn, như căm phẫn.
đ1. Chú cừu cố rướn người, đưa chiếc mõm hồng hồng xinh xinh ve vuốt hai chị em.
đ2. Chú cừu trắng muốt hiền lành cố rướn người, đưa chiếc mõm hồng hồng xinh xinh ve vuốt hai chị em.
Em hãy:
a. Xác định thành phần chủ ngữ và vị ngữ của các câu trên.
b. Câu thứ hai trong từng cặp câu trên có thành phần nào được mở rộng bằng cụm từ? Xác định loại cụm từ (cụm danh từ, cụm động từ hay cụm tính từ) được dùng để mở rộng trong những câu ấy. Nêu tác dụng của việc sử dụng những cụm từ ấy để mở rộng các thành phần chính của câu.
Phương pháp giải:
Ôn lại kiến thức về từ loại
Lời giải chi tiết:
a. Xác định chủ ngữ, vị ngữ:
a1. Giọng bà/trầm bổng, ngân nga.
a2. Giọng bà/trầm bổng, ngân nga như tiếng chuông.
b1. Cô Gió/khẽ lách qua khe cửa kính.
b2. Cô Gió/nhẹ nhàng khẽ lách qua khe cửa kính.
c1. Con chim/đã không cứu được nó.
c2. Con chim cánh to cánh nhỏ/đã không cứu được nó.
d1. Con vật/lồng lộn.
d2. Con vật/bỗng lồng lộn khắp phòng, như đau đớn, như căm phẫn.
đ1. Chú cừu/cố rướn người, đưa chiếc mõm hồng hồng xinh xinh ve vuốt hai chị em.
đ2. Chú cừu trắng muốt hiền lành/cố rướn người, đưa chiếc mõm hồng hồng xinh xinh ve vuốt hai chị em.
đ2. Chú cừu trắng muốt hiền lành/cố rướn người, đưa chiếc mõm hồng hồng xinh xinh ve vuốt hai chị em.
b.
Câu a2 có một phần vị ngữ được mở rộng bằng cụm từ “ngân nga như tiếng chuông”.
Câu b2 biến vị ngữ của câu từ một cụm động từ đơn giản thành một cụm động từ có thông tin chi tiết, cụ thể.
Câu c2 biến chủ ngữ của câu từ một cụm danh từ đơn giản thành một cụm danh từ có thông tin chi tiết, cụ thể.
Câu d2 biến vị ngữ của câu từ một từ thành một cụm động từ.
Câu đ2 biến vị ngữ của câu từ một cụm động từ đơn giản thành một cụm động từ có thông tin chi tiết, cụ thể, biến chủ ngữ của câu từ một cụm danh từ đơn giản thành một cụm danh từ có thông tin chi tiết, cụ thể.
Câu 3
Xác định thành phần chủ ngữ và vị ngữ của các câu dưới đây. Dùng cụm từ để mở rộng chủ ngữ hoặc vị ngữ, hoặc cả hai thành phần chính trong các câu ấy. Sau đó so sánh đề làm rõ sự khác biệt nghĩa giữa câu mở rộng và câu trước khi mở rộng.
a. Mưa rơi.
b. Chim chao mình sát mặt nước, nghiêng ngó.
c. Gió nổi lên.
d. Thầy giáo Cóc nhìn Ếch Cốm.
đ. Tiếng hát vang lên:
Dung dăng dung dẻ,
Chúng ta vui vẻ,
Đến lớp học hành.
Phương pháp giải:
Đọc và xác định
Lời giải chi tiết:
Xác định chủ ngữ, vị ngữ
a. Mưa/rơi.
b. Chim/chao mình sát mặt nước, nghiêng ngó.
c. Gió/nổi lên.
d. Thầy giáo Cóc/nhìn Ếch Cốm.
đ. Tiếng hát/vang lên:
Dung dăng dung dẻ,
Chúng ta vui vẻ,
Đến lớp học hành.
Mở rộng câu:
a. Những hạt mưa ngoài hiên nhà/rơi tí tách.
b. Những chú chim/chao mình sát mặt nước, nghiêng ngó.
c. Những cơn gió/nổi lên cuồn cuộn.
d. Thầy giáo Cóc/nhìn Ếch Cốm thật trìu mến.
đ. Tiếng hát/vang lên thật trong trẻo:
Dung dăng dung dẻ,
Chúng ta vui vẻ,
Đến lớp học hành.
Câu 4
Tìm và chỉ ra tác dụng của những phép so sánh có trong các đoạn văn sau:
a. Đôi càng tôi mẫm bóng. Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt. Thỉnh thoảng, muốn thử sự lợi hại của những chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ. Những nơi cỏ gãy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua. Đôi cánh tôi, trước kia ngắn hủn hoẳn bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi. Mỗi khi tôi vũ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã. Lúc tôi đi bách bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn. Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc.
(Tô Hoài, Bài học đường đời đầu tiên)
b. Tôi hiểu, khu vườn là món quà bất tận của tôi. Mỗi một bông hoa là một món quà nhỏ, một vườn hoa là món quà lớn.
(Nguyễn Ngọc Thuần, Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ)
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức đã học về phép so sánh
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Phép so sánh trong các đoạn văn:
a.
“Những nơi cỏ gãy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua”
“Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc”
=> Tác dụng: làm câu văn thêm sinh động, gợi tả, giúp người đọc hình dung rõ hơn về sức vóc cường tráng của Dế Mèn, đồng thời thể hiện thái độ kiêu căng, hóm hỉnh.
b.
“Khu vườn là món quà bất tận của tôi”.
“Mỗi một bông hoa là một món quà nhỏ, một vườn hoa là món quà lớn”.
=> Tác dụng: giúp người đọc hình dung rõ hơn về giá trị của thiên nhiên đối với cuộc sống của nhân vật “tôi”.
Câu 5
Nối thành ngữ (cột A) với phần giải thích nghĩa tương ứng (cột B):
A (Thành ngữ) | B (Nghĩa của thành ngữ) |
1. Tắt lửa tối đèn | a. Chỉ tính chuyện tạm bợ trước mắt, không suy nghĩ đến chuyện lâu dài |
2. Hôi như cú | b. Tiết kiệm, tằn tiện trong tiêu dùng, để dành tiền làm việc khác |
3. Ăn xổi ở thì | c. Khen ai làm gì rất nhanh |
4. Thắt lưng buộc bụng | d. Hôi hám, có ý chê bai, chế giễu |
5. Nhanh như cắt | đ. Lúc khó khăn, hoạn nạn cần đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức về thành ngữ
Lời giải chi tiết:
Nối từ: 1- đ, 2- d, 3- a, 4- b, 5- c
Câu 6
Cụm từ “sực nhớ” trong đoạn văn sau có thể được thay bằng những cách diễn đạt khác như “tha thiết nhớ”, “bồi hồi nhớ” không? Hãy lý giải câu trả lời của em.
May nhờ có giọt sương lạnh toát rơi bộp xuống cổ, ông mới sực nhớ quê nhà. Không ngờ cái xóm nhỏ heo hút này lại giống cái xóm của ông thời thơ ấu đến thế. Bao nhiêu năm biền biệt đi xa, mải làm ăn, ông quên khuấy đi mất.
(Trần Đức Tiến, Giọt sương đêm)
Phương pháp giải:
Thử thay "sực nhớ" bằng "tha thiết nhớ" hay "bồi hồi nhớ" xem có thay đổi ý nghĩa văn bản hay không
Lời giải chi tiết:
- Cụm từ “sực nhớ” trong đoạn văn sau không thể được thay bằng những cách diễn đạt khác như “tha thiết nhớ”, “bồi hồi nhớ”.
* Bởi vì: “tha thiết nhớ”, “bồi hồi nhớ” không diễn tả được như từ “sực nhớ”.
Cụm từ “tha thiết nhớ”, “bồi hồi nhớ” không diễn tả được đúng với hoàn cảnh của sự xuất hiện bất ngờ của nỗi nhớ quê hương trong tâm trạng của nhân vật Bọ Dừa.
Từ “sực nhớ” thể hiện sự việc bất ngờ ập đến. Trước đó Bọ Dừa chưa từng có ý định về quê. Tuy nhiên giọt sương đêm lạnh toát rơi bộp xuống cổ có thể đã khiến Bọ Dừa nhớ lại trải nghiệm tương tự ở quê nhà, vì vậy nỗi nhớ quê cũng theo đó mà ập đến.
Gợi Ý Phương Pháp Tiếp Cận Cho Bài Học Bài tập Tiếng Việt trang 46, 47, 48 Sách bài tập Ngữ Văn 6 tập 1 Chân trời sáng tạo
Với định hướng phát triển năng lực của bộ sách , các bài tập trong phần Bài tập Tiếng Việt trang 46, 47, 48 Sách bài tập Ngữ Văn 6 tập 1 Chân trời sáng tạo thường không đơn thuần chỉ là việc áp dụng một công thức cứng nhắc. Môn Ngữ văn Lớp 6 yêu cầu sự tư duy liên kết rất cao. Đối với các câu hỏi lý thuyết, học sinh cần rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản, trích xuất từ khóa (keyword) quan trọng để trả lời đúng trọng tâm, tránh lan man. Đối với dạng bài tập tính toán hay suy luận logic, điều quan trọng nhất là phải tóm tắt được đề bài (đề bài cho dữ kiện gì, yêu cầu tìm đại lượng nào), sau đó phác thảo sơ đồ tư duy giải quyết vấn đề trước khi bắt tay vào giải chi tiết. Lời giải được cung cấp trong bài viết này đã tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc đó: luôn giải thích lý do tại sao lại sử dụng công thức/phương pháp này để các bạn dễ dàng theo kịp mạch tư duy.
Lưu Ý Quan Trọng Về Cách Trình Bày Bài Tập Môn Ngữ văn
Một bài giải hoàn hảo không chỉ cần đáp số chính xác mà còn phụ thuộc rất lớn vào cách trình bày. Đối với học sinh Lớp 6, việc rèn luyện kỹ năng trình bày khoa học, sạch đẹp là vô cùng cần thiết để ghi trọn vẹn điểm số trong các kỳ thi tự luận. Khi tham khảo lời giải Bài tập Tiếng Việt trang 46, 47, 48 Sách bài tập Ngữ Văn 6 tập 1 Chân trời sáng tạo trên website, các bạn hãy chú ý đến cấu trúc của một bài làm chuẩn mực. Nếu là một bài Toán/Lý/Hóa, hãy luôn nhớ ghi công thức tổng quát trước khi thay số, nhớ ghi đơn vị ở đáp số cuối cùng và có câu kết luận (Vậy...). Nếu là bài Văn/Sử/Địa, hãy trình bày thành các đoạn văn rõ ràng, có luận điểm, luận cứ rành mạch. Đừng bao giờ viết tắt những thuật ngữ chuyên ngành không được phép. Việc tuân thủ sự chỉn chu ngay từ khi làm bài tập về nhà sẽ giúp bạn tạo được thiện cảm rất lớn đối với giáo viên chấm bài.
Lời Khuyên Về Khả Năng Tự Nghiên Cứu Và Tham Khảo Khách Quan
Chúng tôi tạo ra chuyên trang lời giải sách môn Ngữ văn với mong muốn mang đến một "gia sư ảo" (virtual tutor) miễn phí, giúp các bạn học sinh tháo gỡ những khúc mắc ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kiến thức luôn mang tính đa chiều, đặc biệt đối với các câu hỏi mở, câu hỏi vận dụng sáng tạo (VDC) trong SGK. Đáp án mà chúng tôi đưa ra trong bài Bài tập Tiếng Việt trang 46, 47, 48 Sách bài tập Ngữ Văn 6 tập 1 Chân trời sáng tạo được xem là phương án tham khảo chuẩn mực và logic nhất, nhưng không phải là duy nhất. Chúng tôi luôn khuyến khích các bạn phát huy tư duy phản biện (Critical Thinking). Nếu bạn tìm ra một cách giải khác ngắn gọn hơn, thông minh hơn, hoặc có một góc nhìn lập luận sắc bén hơn so với bài giải mẫu, hãy mạnh dạn chia sẻ nó trong phần Bình luận (Comment) ở phía dưới trang. Điều đó chứng tỏ bạn đã thực sự thấu hiểu và làm chủ được môn học này.
Góc Thảo Luận Và Hỗ Trợ Chuyên Môn Trực Tuyến
Quá trình tự học môn Ngữ văn lớp 6 đôi khi sẽ khiến bạn cảm thấy đơn độc và bế tắc khi đối mặt với một vấn đề quá hóc búa. Đừng lo lắng! Chuyên mục hướng dẫn giải bài Bài tập Tiếng Việt trang 46, 47, 48 Sách bài tập Ngữ Văn 6 tập 1 Chân trời sáng tạo của chúng tôi được thiết kế đi kèm với hệ thống hỏi đáp tương tác trực tiếp. Nếu trong quá trình đối chiếu bài giải mà bạn phát hiện ra một dấu phép tính bị sai sót do lỗi đánh máy, hoặc có một bước biến đổi công thức nào đó quá tắt khiến bạn không hiểu được, xin vui lòng để lại ý kiến ngay lập tức. Đội ngũ giáo viên và các kiểm duyệt viên học thuật của website sẽ thường xuyên theo dõi các câu hỏi của học sinh để giải đáp, giải thích lại cặn kẽ (reply) trong thời gian sớm nhất, đảm bảo luồng kiến thức bạn tiếp nhận luôn được thông suốt và chính xác tuyệt đối.