Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đinh Chiểu.

Tổng quan nội dung

Lời Giải Chi Tiết: Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đinh Chiểu.

Bạn đang theo dõi bài viết hướng dẫn chi tiết Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đinh Chiểu. thuộc chương trình môn Ngữ văn Lớp 11 của bộ sách . Để hoàn thành tốt bài học này, học sinh cần nắm vững các lý thuyết trọng tâm đã được thầy cô giảng dạy trên lớp, từ đó vận dụng linh hoạt vào việc phân tích và giải quyết các câu hỏi, bài tập thực hành. Bài viết dưới đây được biên soạn bởi đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, trình bày tuần tự và rõ ràng lời giải cho từng mục trong SGK (bao gồm cả các câu hỏi thảo luận Khởi động/Khám phá lẫn bài tập tự luận cuối bài). Hãy đọc kỹ từng bước hướng dẫn (step-by-step) để hiểu rõ bản chất vấn đề thay vì chỉ sao chép kết quả cuối cùng nhé.

Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng thành công được bức tượng đài về những người nông dân yêu nước, những người anh hùng vô danh “sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc”.

Dàn ý

1. Mở bài

- Giới thiệu tác giả và tác phẩm

- Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận

2. Thân bài

- Ngôn ngữ giản dị, dân dã, có sức mạnh gợi cảm, có giá trị thẩm mĩ cao. Tác giả sử dụng những từ ngữ, lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân Nam Bộ

- Những hình tượng nghệ thuật, những liên tưởng so sánh đậm chất Nam Bộ và vì vậy cũng giàu chất hiện thực. Tác giả dùng lối ví von so sánh rất quen thuộc với cuộc sống của người làm ruộng, rất phù hợp với nếp cảm, nếp nghĩ của nông dân

- Khi khắc họa hình tượng người nông dân nghĩa sĩ, người viết không sử dụng bút pháp ước lệ rất phổ biến trong văn học trung đại mà hoàn toàn sử dụng bút pháp hiện thực. 

- Nhiều thủ pháp nghệ thuật được sử dụng rất thành công: biểu tượng (súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ), so sánh (trông tin quan như trời hạn trông mưa, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ), đặc tả (đạp rào lướt tới, xô cửa xông vào),.. Đặc biệt phép đối được sử dụng rộng rãi, đạt hiệu quả nghệ thuật cao. Đối từ ngừ: trống kì/ trống giục, lướt tới / xông vào, đâm ngang/ chém ngược, hè trước/ó sau… Đối ý: ta (manh áo vải, ngọn tầm vông) địch (đạn nhỏ, đạn to, tàu sắt, tàu đồng); vũ khí thô sơ (rơm con cúi, lưỡi dao phay)/ chiến thắng lớn (đốt xong nhà dạy đạo, chém rớt đầu quan hai) v.v… Những phép đối nói trên đã khắc họa vẻ đẹp bi tráng của người nông dân nghĩa sĩ.

- Giọng văn thay đổi linh hoạt, phù hợp với những nội dung biểu đạt, trạng thái cảm xúc, trên nền âm hưởng chủ đạo là thống thiết. Khi gợi lại cuộc sống lam lũ, nghèo khó của người nông dân, giọng văn bùi ngùi, trầm lắng: cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó, chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu ở làng bộ.

+ Khi tái hiện trận công đồn, nhịp điệu cầu văn nhanh, mạnh, dồn dập, khắc họa những hành động khẩn trương, quyết liệt, gợi tả khí thế sôi động, tâm trạng hào hứng, hả hê: kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt, tàu đồng súng nổ.

+ Khi ca ngợi những người nghĩa sĩ xả thân vì nước, lời văn trang trọng, tự hào: Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời, ai cũng mộ.

+ Giọng điệu bài văn tế khi là tiếng khóc đau thương, khi là lời khẳng định ngợi ca mang âm hưởng sử thi đã góp phần khắc họa bức tượng đài người nông dân nghĩa sĩ với vẻ đẹp bi tráng.

3. Kết bài

- Khái quảt và mở rộng vấn đề

Bài mẫu

        "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" là một tác phẩm văn chương mang tính lịch sử cao, là tiếng lòng xót thương cho những vị anh hùng vô danh đã ngã xuống vì độc lập dân tộc. Ca ngợi bức tượng đài tráng sĩ nhân dân, tác giả Nguyễn Đình Chiểu không chỉ nêu ra công lao to lớn của họ một cách đơn thuần mà còn kết hợp rất nhiều những biện pháp nghệ thuật độc đáo, đặc sắc, vừa có chất trữ tình, nặng cảm xúc, vừa có chất hiện thực bình dị, bi tráng. Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm vừa là hình ảnh được xây dựng xuất chúng, vừa là thành quả lao động nghệ thuật của một cây bút tài ba, giàu lòng nhân ái.

        Đặc sắc nghệ thuật của một tác phẩm văn học là những tín hiệu nghệ thuật được sử dụng tiêu biểu, thể hiện qua từng câu thơ, câu văn nằm tạo ra sự mới mẻ, độc đáo. Các khía cạnh của nghệ thuật được xét trên cách vận dụng ngôn từ, từ ngữ mang giá trị gợi tả, gợi cảm, những hình ảnh biểu trưng riêng biệt, các biện pháp tu từ được sử dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt. Trong "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", nghệ thuật được thể hiện ở giọng điệu trữ tình, xót thương cho những người nghĩa sĩ nông dân oai hùng, quả cảm, ngôn từ gần gũi, giản dị mang âm hưởng Nam Bộ và thủ pháp xây dựng câu văn biền ngẫu đã được tác giả phối hợp, tạo nên bản anh hùng ca chói lòa, tri ân những người anh hùng đã xả thân vì nước.

        Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm này trước hết nằm ở cách lựa chọn thể loại cũng như hoàn cảnh ra đời. Xuất thân là một người có học thức cao rộng, vì chiến tranh mà phải trôi dạt về lánh tạm tại quê vợ ở Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu mang trong mình dòng máu yêu nước, thấu hiểu những cảnh tượng khổ đau, mất mát của nhân dân. Chính bản chất thiện lương ấy đã khiến tác giả động lòng thương cảm sâu sắc trước sự hi sinh của những người chiến sĩ nông dân. Gia đình nhỏ bỗng dưng có vợ mất chồng, con mất cha, mẹ già không nơi trông tựa, nỗi đau chồng chất khiến những câu văn càng thêm âm điệu đau buồn. Lựa chọn thể loại văn tế nhưng lại có lớp lang câu thơ, âm hưởng, vần điệu khiến tác phẩm trở nên có tính nhạc, cốt để làm nổi bật sự tiếc thương không chỉ của một con người mà là cả dân tộc dành cho những người đã khuất. Tuy nhiên, cách hành văn của Nguyễn Đình Chiểu không thê lương, u uất mà bi tráng, oai hùng. Trong nỗi đau ấy, con người vẫn như cây tre ngay thẳng, vươn mình lên cao tìm sức sống. Qua đó, tác giả đã khắc họa bức tượng đài người anh hùng nông dân, người anh hùng tuy xuất thân bình dị nhưng lại mang trong mình tình yêu Tổ quốc và lòng dũng cảm mãnh liệt.

        Vẻ đẹp người chiến sĩ nhân dân ra trận tạo nên nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm. Giới thiệu người chiến sĩ, tác giả không nhắc đến áo gươm mũ giáp được trang bị đầy đủ, mà là những người nông dân "cui cút làm ăn", "toan lo nghèo đói", "chưa quen cung ngựa, nào tới trường nhung", "chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ". Những người dân thật thà, chân phương như vậy, chỉ biết "Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm", chưa một lần tiếp xúc với giáo gươm, khiên trống". Đối mặt với cảnh lãnh thổ quốc gia bị lâm nguy, họ sẵn sàng đứng lên hô hào, sẵn sàng "tuy là mất tiếng vang như mõ", đối đầu với quân địch đã xác định tư tưởng vững vàng, không sợ chết. Tác giả lựa chọn cách giới thiệu rất thân quen, từ những công việc nhà nông quen thuộc để khắc họa hình tượng tráng sĩ xả thân vì nước. Khi thấy bè lũ xâm lược ngày càng lấn lướt, quan trên lại tỏ thái độ phớt lờ, bao biện, những người nông dân thiện lương lại có cảm giác "muốn tới ăn gan", "muốn ra cắn cổ", "ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ". Chẳng phải tự nhiên mà họ lại thay đổi tâm trạng như vậy, chính vì lòng trung thành, thương yêu dân tộc và đất nước đã nhen lên ngọn lửa hận thù đối với bè lũ cướp nước, bán nước. Bài văn tế chạm đến cảm xúc của người đọc một phần do cách xây dựng hình tượng nhân vật cụ thể và mang tính biểu trưng. Giống như chàng Đăm Săn trong những sử thi cổ, tinh thần dũng mãnh của những người chiến sĩ Cần Giuộc là khát khao, ước vọng của nhân dân về khởi nghĩa nông dân giành thắng lợi, khẳng định sức mạnh quần chúng và tinh thần đoàn kết, lòng tự tôn dân tộc.

        Xét về khía cạnh nghệ thuật, không thể quên nhắc đến cách vận dụng câu từ trong tác phẩm. Một tác phẩm chỉ trọn vẹn giá trị nghệ thuật khi giao tiếp với người đọc thành công qua câu chữ. Với mục đích thể hiện sự tôn kính trong ngày lễ tế, các chiến sĩ đã hi sinh, tác giả lựa chọn ngôn từ vừa trang nghiêm, đúng hình thức, lại vừa quen thuộc, mang âm hưởng Nam Bộ đặc trưng. Các thán từ như "Hỡi ôi", "Khá thương thay", "Ôi thôi thôi!", "Ôi!", "Đau đớn bấy", "Não nùng thay!"... được sử dụng rải rác nhằm bộc lộ cảm xúc đạt tới đỉnh điểm của nhà văn, lại có tác dụng khơi gợi sự đồng cảm từ người nghe. Các từ ngữ đặc biệt mang tính địa phương như "bao tấu", "bầu ngòi", "chi nhọc", "hai hàng lụy",... khiến bài văn tế thêm tự nhiên, không hô hào sáo rỗng, lại tỏ thái độ tôn trọng quê hương gốc gác của những người đã hi sinh.

        Một yếu tố độc đáo tạo nên đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm là cách tác giả vận dụng những câu nói khai thác đời sống giản dị đời thường, chắt lọc trở thành những câu nói có giá trị nghệ thuật. Những câu văn giàu cảm xúc như "Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều", "Não nùng thay! Vợ yêu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ" hay các câu ca dao tục ngữ được lồng ghép khéo léo như "tấc đất ngọn rau ơn chúa", "bát cơm manh áo ở đời",... khiến tác phẩm có tính văn chương hơn. Khai thác chất liệu hiện thức, Nguyễn Đình Chiểu không khiến tác phẩm trở thành những câu thoại khẩu ngữ thường nhật, thay vào đó là hệ thống câu văn biểu cảm. Cùng với giọng văn oai hùng, bi tráng, nghệ thuật sử dụng ngôn từ đã khiến bài Văn tế trở nên vần điệu, lay động hơn.

        Bao trùm lên toàn bộ tác phẩm là âm hưởng anh hùng ca bi tráng, cơ ngợi công ơn lớn lao của những người lính nhân dân, đồng thời không quên tỏ bày nỗi xót xa đến những mất mát đau thương mà những người thân của họ phải chịu đựng. Mở đầu tác phẩm, Nguyễn Đình Chiểu dùng giọng văn mang khí chất anh hùng quả cảm, nêu lên quyết tâm ngùn ngụt của người lính Cần Giuộc: "Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao", "Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ", " Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia/ Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ",... đều là những câu thơ thể hiện khí phách của người làm trai, thấy quân thù nhất định không tha, "liều mình như chẳng có", "xô cửa xông vào". Không gian trận đấu như mở ra trước mắt người đọc với những chuỗi hành động mạnh mẽ liên tiếp thể hiện tinh thần sắt đá, quật cường. Tuy lực lượng vũ trang chênh lệch cả về trang thiết bị lẫn số lượng nhưng những người chiến sĩ Cần Giuộc không lấy đó làm lý do nản chí, chùn bước.

        Lựa chọn thể loại Văn tế, tác giả đã gửi gắm nỗi niềm thương cảm, đồng thời là sự biết ơn, kính trọng sâu sắc với máu và nước mắt của những người nông dân cần cù, chịu khó. Với cách xây dựng ba phần mở, thân, kết điển hình, tác giả ca ngợi, tri ân với những hi sinh vĩ đại của người anh hùng nhân dân, bày tỏ cảm xúc tiếc thương vô bờ bến. Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm được đảm bảo bởi các yếu tố từ hình ảnh, ngôn từ đến cảm xúc, lối hành văn. Có thể nói, đây là một tác phẩm điển hình của thể loại văn xuôi có vần điệu, cấu trúc đối xứng, biền ngẫu. Không chỉ có hình tượng người anh hùng được khắc họa mà một lần nữa, sự tài hoa trong văn học của Nguyễn Đình Chiểu lại khẳng định chỗ đứng vững chắc của ông trên diễn đàn nghệ thuật.

Nguồn: Sưu tầm

 

Gợi Ý Phương Pháp Tiếp Cận Cho Bài Học Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đinh Chiểu.

Với định hướng phát triển năng lực của bộ sách , các bài tập trong phần Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đinh Chiểu. thường không đơn thuần chỉ là việc áp dụng một công thức cứng nhắc. Môn Ngữ văn Lớp 11 yêu cầu sự tư duy liên kết rất cao. Đối với các câu hỏi lý thuyết, học sinh cần rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản, trích xuất từ khóa (keyword) quan trọng để trả lời đúng trọng tâm, tránh lan man. Đối với dạng bài tập tính toán hay suy luận logic, điều quan trọng nhất là phải tóm tắt được đề bài (đề bài cho dữ kiện gì, yêu cầu tìm đại lượng nào), sau đó phác thảo sơ đồ tư duy giải quyết vấn đề trước khi bắt tay vào giải chi tiết. Lời giải được cung cấp trong bài viết này đã tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc đó: luôn giải thích lý do tại sao lại sử dụng công thức/phương pháp này để các bạn dễ dàng theo kịp mạch tư duy.

Lưu Ý Quan Trọng Về Cách Trình Bày Bài Tập Môn Ngữ văn

Một bài giải hoàn hảo không chỉ cần đáp số chính xác mà còn phụ thuộc rất lớn vào cách trình bày. Đối với học sinh Lớp 11, việc rèn luyện kỹ năng trình bày khoa học, sạch đẹp là vô cùng cần thiết để ghi trọn vẹn điểm số trong các kỳ thi tự luận. Khi tham khảo lời giải Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đinh Chiểu. trên website, các bạn hãy chú ý đến cấu trúc của một bài làm chuẩn mực. Nếu là một bài Toán/Lý/Hóa, hãy luôn nhớ ghi công thức tổng quát trước khi thay số, nhớ ghi đơn vị ở đáp số cuối cùng và có câu kết luận (Vậy...). Nếu là bài Văn/Sử/Địa, hãy trình bày thành các đoạn văn rõ ràng, có luận điểm, luận cứ rành mạch. Đừng bao giờ viết tắt những thuật ngữ chuyên ngành không được phép. Việc tuân thủ sự chỉn chu ngay từ khi làm bài tập về nhà sẽ giúp bạn tạo được thiện cảm rất lớn đối với giáo viên chấm bài.

Lời Khuyên Về Khả Năng Tự Nghiên Cứu Và Tham Khảo Khách Quan

Chúng tôi tạo ra chuyên trang lời giải sách môn Ngữ văn với mong muốn mang đến một "gia sư ảo" (virtual tutor) miễn phí, giúp các bạn học sinh tháo gỡ những khúc mắc ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kiến thức luôn mang tính đa chiều, đặc biệt đối với các câu hỏi mở, câu hỏi vận dụng sáng tạo (VDC) trong SGK. Đáp án mà chúng tôi đưa ra trong bài Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đinh Chiểu. được xem là phương án tham khảo chuẩn mực và logic nhất, nhưng không phải là duy nhất. Chúng tôi luôn khuyến khích các bạn phát huy tư duy phản biện (Critical Thinking). Nếu bạn tìm ra một cách giải khác ngắn gọn hơn, thông minh hơn, hoặc có một góc nhìn lập luận sắc bén hơn so với bài giải mẫu, hãy mạnh dạn chia sẻ nó trong phần Bình luận (Comment) ở phía dưới trang. Điều đó chứng tỏ bạn đã thực sự thấu hiểu và làm chủ được môn học này.

Góc Thảo Luận Và Hỗ Trợ Chuyên Môn Trực Tuyến

Quá trình tự học môn Ngữ văn lớp 11 đôi khi sẽ khiến bạn cảm thấy đơn độc và bế tắc khi đối mặt với một vấn đề quá hóc búa. Đừng lo lắng! Chuyên mục hướng dẫn giải bài Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đinh Chiểu. của chúng tôi được thiết kế đi kèm với hệ thống hỏi đáp tương tác trực tiếp. Nếu trong quá trình đối chiếu bài giải mà bạn phát hiện ra một dấu phép tính bị sai sót do lỗi đánh máy, hoặc có một bước biến đổi công thức nào đó quá tắt khiến bạn không hiểu được, xin vui lòng để lại ý kiến ngay lập tức. Đội ngũ giáo viên và các kiểm duyệt viên học thuật của website sẽ thường xuyên theo dõi các câu hỏi của học sinh để giải đáp, giải thích lại cặn kẽ (reply) trong thời gian sớm nhất, đảm bảo luồng kiến thức bạn tiếp nhận luôn được thông suốt và chính xác tuyệt đối.